Tuesday, July 17, 2012

Cá quả - Chữa trĩ ra máu


Cá quả còn có tên gọi là cá chuối, cá lóc. Cá có vẩy nhỏ, cá hình ống tròn, toàn thân màu xám xanh, có nhiều đường vân màu đen, thịt ngon bổ, dễ chế biến thành nhiều món ăn.
Giá trị dinh dưỡng: Trong 100g thịt cá quả chứa 19,8g đạm; 1,4g mỡ; 57mg canxi; 163mg photpho; 0,5mg sắt và các vitamin B1, B2, Axit Nicotinic.
Theo nghiên cứu trong cá quả có chứa 18 loại axit amin, mùa đông lượng canxi trong thịt, huyết, gan tạng cá quả tăng cao. Vitamin C trong cá quả mùa hạ cao hơn mùa đông. Methionine- một axit amin tốt trong thịt cá quả cao hơn cá trắm, cá chim.
Theo y học cổ truyền, cá quả tính hàn vị ngọt, bổ tỳ vị, lợi thuỷ, thông khí, tiêu chướng, bổ âm, tráng dương, dưỡng huyết, bổ tim, thận, khứ phong, nhuận phổi, lợi sữa. Cá quả là món ăn lý tưởng cho người bị phù thũng, phù chân, kinh nguyệt không đều, ra nhiều khí hư, lưng khớp mỏi, trĩ, mẩn ngứa, phổi kết hạn, hoặc người tỳ vị suy, thiếu máu.
Món ăn từ cá quả chữa bệnh:
* Chữa trĩ ra máu: Cá qủa 1 con, tỏi, bạch cập. Cá làm sạch cho vào nồi nấu canh với tỏi và bạch cập để ăn.
* Trị chuột rút: Đầu cá 3 cái, thương truật (cây thuốc) 25g, hạt tiêu 1,5g, mộc nhĩ 25g, rượu. Sấy khô đầu cá cùng với các nguyên liệu khác nghiền thành bột, rồi hoà với rượu để uống, một ngày uống 10g.
* Chữa thiếu sữa, bổ huyết: Cá quả 1 con, vài con giun đất, mắm, muối, hạt tiêu. Cá làm sạch moi ruột, giun đất rửa sạch băm nát nhét vào bụng cá, nêm gia vị rồi cho vào nồi hấp cách thuỷ để ăn.
* Chữa viêm thận mãn tính: Cá 1 con, đậu đỏ, tỏi, đường, giấm. Cá moi ruột, rửa sạch, để vảy; đậu đỏ, tỏi nhét vào bụng cá rồi cho vào nồi hấp chín. Sau đó ăn với đường và giấm.
* Chữa phổi kết hạt: Cá quả 1 con, gừng tươi, táo tàu 3 quả. Cá làm sạch, gừng thái lát, cùng với táo tàu nấu canh để ăn.

Hạt điều - món ăn ngăn ngừa nhiều bệnh tật


Hạt điều có giá trị kinh tế cao vì ăn ngon và có chứa nhiều giá trị dinh dưỡng như chất sắt, phốt pho, magie, kẽm, và selenium. Hạt điều cũng giàu chất chống oxi hóa, protein và hóa học thực vật. Nhờ vậy khi ăn sẽ giúp mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Ngừa ung thư
Nhiều nghiên cứu cho biết, hạt điều có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết. Sự giàu có chất đồng cũng giúp cho hạt điều có thể loại bỏ được các phân tử gốc tự do. Ngoài ra, nó còn giàu nguồn hóa học thực vật và các chất chống oxi hóa nên giúp bảo vệ tim cũng như ngừa ung thư.
Tốt cho tim
Nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Dinh dưỡng Anh Quốc phát hiện có nhiều chất chống oxi hóa trong các loại hạt thực vật, trong đó có hạt điều. Thành phần chống oxi hóa này có thể mang lại nhiều lợi ích bảo vệ tim. Còn nhiên cứu của Trung tâm Sức khỏe phụ nữ ở Iowa, Mỹ cho biết, những phụ ăn mỗi tuần một lần hạt điều sẽ giảm được 11% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và nếu ăn từ 1-4 lần thì giảm được 19%. Tổng hợp từ 4 nghiên cứu khác nhau, các chuyên gia kết luận, những người ăn các loại hạt như hạt điều từ 1-4 lần/tuần sẽ giúp giảm được 37% nguy cơ tim mạch so với những người hiếm khi ăn.
Giúp xương khớp chắc khỏe
Trong hạt đều rất giàu magie. Khoảng 2/3 lượng magie trong cơ thể tập trung ở xương. Magie giúp cân bằng canxi, từ đó điều tiết thần kinh và cơ âm thanh (ở họng). Ngoài ra, chất đồng trong hạt điều cũng rất cần thiết cho chức năng của enzyme liên quan đến kết nối collagen và elastin, đây là những thành phần giúp cho xương và khớp được linh hoạt và khỏe.
Chống sỏi mật
Sau 20 năm nghiên cứu ở 80.000 phụ nữ của Trung tâm nghiên cứu Sức khỏe Nurse, các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện thấy phụ nữ ăn ít nhất 1 ouce (28g) các loại hạt như lạc hay hạt điều mỗi tuần (tương đương với khoảng 2 thìa đầy) sẽ giúp giảm được nguy cơ phát triển bệnh sỏi mật khoảng 25%. Chính các khoáng chất và vitamin trong hạt điều đã mang lại lợi ích này. Ngoài ăn bình thường, bạn có thể cho hạt điều vào trong cháo yến mạch hoặc món salad.
Tốt cho thần kinh
Có quá ít magie đồng nghĩa với việc cơ thể bạn có quá nhiều canxi, và điều này có thể làm tổn thương đến tế bào thần kinh. Thiếu magie cũng dẫn đến tăng huyết áp, căng cơ, đau nửa đầu, mệt mỏi. Nhiều nghiên cứu cho biết, magie giúp làm giảm bớt tần suất các cơn đau đầu tấn công và giúp ngăn chặn đau tim, mà hạt lại rất nhiều magie.
Giúp giảm cân
Những người ăn các loại hạt, trong đó có hạt điều, 2 lần/tuần, ít có khả năng thừa cân vào béo phì hơn so với những người mà hiếm khi ăn. Hạt điều thực ra có tương đối nhiều chất béo, nhưng chất béo này lại tốt cho cơ thể. Nếu so với các loại hạt khác như hạnh nhân, hồ đào, lạc và quả óc chó thì hạt điều lại ít chất béo hơn. Mặt khác, hạt điều cũng giàu năng lượng và chất xơ, nên có thể coi đây là món ăn vặt lý tưởng để kiểm soát tăng cân.

Điều - thực phẩm, cây thuốc


Cây điều còn gọi là đào lộn hột vì nó thuộc họ Đào lộn hột hay còn gọi là họ Xoài (Anacardiaceae) tên khoa học: Anacardium occidentale L.; đồng nghĩa: Anacardium curatellifolium A.St.-Hil.) là cây ăn quả quan trọng chỉ có ở miền Nam nhưng lại không thấy có ở miền Bắc.
Điều không những là cây thực phẩm quý, cho vị thuốc tốt mà còn là cây phủ xanh đất trồng đồi trọc, cây chắn gió, chắn cát. Điều là cây nhiệt đới, xanh quanh năm, cao 6 – 14m, thân ngắn cành dài, lá đơn nguyên hình trứng tròn đều, hoa nhỏ mọc thành chuỳ. Quả thật là một loại quả khô, hình quả thận, nặng 5 – 9g, vỏ mầu xám, cuống quả phình to bằng quả trứng màu vàng, đỏ hay trắng, làm cho ta có cảm giác phần cuống quả phình ra là quả và quả thật là hạt do đó có tên là “Đào lộn hột”
Điều nguồn gốc ở Braxin nhưng các nước trồng nhiều nhất lại là Ấn Độ, Việt Nam, Tanzanai, Mozambic. Điều phát triển ở vùng nóng ẩm và nửa khô hạn. Cây không chịu được giá rét, dưới 7 – 8oC cây ngừng sinh trưởng, do đó điều chỉ phát triển tốt ở miền Nam nước ta nhờ khí hậu phù hợp.
Quả Điều có rất nhiều công dụng. Nhân Điều rất ngon bùi như hạt dẻ hay hạnh nhân, ngon hơn lạc, được dùng trong chế biến Chocola, kẹo Nuga, bánh ngọt, bánh quy, kem. Nhân điều rang là món nhậu lai rai rất tốt. Một số nước dùng nhân điều thay sữa đối với một số người bị dị ứng sữa, người béo phì không muốn tăng cân, dùng cho các nhà thể thao và luyện tập thể hình.
Nghiền một bát nhân điều sống, cho thêm nửa bát nước táo, một thìa mật ong, khuấy đều sẽ có dung dịch sữa rất giầu protein. Quả giả là nguyên liệu tốt để chế biến. Ép quả giả lấy dịch lên men sẽ có rượu nhẹ thơm ngon (rượu cajou) hoặc lấy dịch làm nước quả, sirô (rau hoa quả chữa bệnh).
Đặc biệt các bộ phận của cây điều rất giàu dược tính nên được sử dụng làm thuốc trị một số bệnh như:
* Thuốc an thần: Lấy 20 – 30g lá điều phơi khô thái nhỏ sắc với 400ml nước, lấy 100ml uống chia 3 lần.
* Chữa kiết lỵ: Dùng nhân hạt điều cùng với măng cụt, hạt cau già và rau má, mỗi thứ 30g, sắc đặc chia 3 lần uống trong ngày.
* Chữa tiêu chảy:  Lấy vỏ cây điều phơi khô, thái mỏng sắc lấy nước uống chia làm 3 lần.
* Chữa đau nhức: Dùng rượu điều (nước quả giả ủ lên men) để xoa bóp (Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
* Chữa chai chân, nứt nẻ chân, vết loét: Bôi dầu vỏ vào nơi chai chân nứt nẻ mỗi ngày từ 3 – 4 lần.
* Chữa viêm họng: Súc miệng bằng rượu điều ngày 3 – 4 lần.
* Chống nôn mửa: Nhấm nháp rượu điều ngày vài lần.

Kim thất thuốc tiêu viêm


Kim thất còn gọi là rau lúi, rau lùi, đái dầm, thiên hắc địa hồng, Khảm khon (Tày). Tên khoa học Gynura Acutifolia thuộc họ Asteraceae. Thấy mọc hoang hoặc được trồng làm rau ăn. Nhưng Kim thất lại giàu dược tính nên được sử dụng làm thuốc. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây còn tươi hay phơi, sấy khô.
Kim thất là loại cỏ có thân thảo, nhẵn với nhiều cành. Lá mọc so le, cuống ngắn, đầu lá nhọn, mép khía răng cưa không đều, lá dày, nhẵn mọng nước. Mặt trên phiến lá màu xanh thẫm đen, mặt dưới màu đỏ tím, do đó gọi tên là Thiên hắc địa hồng. Cụm hoa hình đầu, màu vàng cam mọc ở đầu cành hay kẽ lá. Quả bế hình trụ mang một mào long trắng ở đỉnh. Ra hoa và kết quả vào mùa hè.
Đông y cho rằng, Kim thất có vị cay ngọt thơm, tính bình, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ tiêu thũng, chỉ khái. Được sử dụng trị viêm họng, viêm khí quản mạn, phong tê thấp khớp xương đau nhức, chấn thương sưng đau…
Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin nêu một số cách trị bệnh từ cây kim thất
* Trị viêm phế quản mạn: Kim thất 80g, thịt lợn nạc 50g, tất cả nấu thành canh ăn cùng cơm trong nhiều ngày.
* Trị đái dắt, đái buốt: Kim thất 80g, đổ nước nấu nhỏ lửa, chia 2 lần ăn trong ngày. Dùng 10 – 15 ngày.
Hoặc Kim thất 30g, mã đề 20g, râu ngô 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cứ 10 ngày là 1 liệu trình.
* Chữa va đập bầm tím: Kim thất 30g, thêm vài hạt hồ tiêu, giã nát đắp vào vết thương, ngày 1 lần, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.
* Chữa vết thương chảy máu: Giã kim thất đắp, buộc rịt, nhanh chóng cầm máu, làm dịu đi sự viêm sưng, đau nhức.
* Chữa viêm bàng quang ở nữ: Kim thất 30g, thổ tam thất 10g, Ý dĩ 10g, cho vào ấm đổ nước sắc kỹ nhỏ lửa, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10 – 15 ngày 1 liệu trình.
* Trị đái dầm ở trẻ: Kim thất 20g, nấu thành canh cho trẻ ăn hằng ngày. Ăn vào buổi trưa. Tối nên hạn chế ăn canh và uống nước nhiều.
* Chữa khí hư, bạch đới: Kim thất 20g, rễ củ gai (sao vàng)16g, cỏ xước 16g, Kim ngân hoa 12g, Cam thảo đất 16g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
* Chữa đau lưng nhức mỏi:  Thái nhỏ 10 ngọn Kim Thất để nấu thành bát canh để ăn. Khỏi đau lưng sau 5 – 6 giờ.  
* Chữa táo bón, kiết lỵ: Dùng máy xay sinh tố xay 6 ngọn Kim Thất thái cùng với 120 ml nước. Chia làm 2 phần để uống vào buổi sáng và chiều. Sau 5,6 ngày sẽ khỏi.  
* Chữa đau bụng, ỉa chảy: Nhai khoảng 10 lá KimThất hoặc giả nát hòa với nước để uống. Sẽ giảm đau bụng và ỉa chảy sau 30 phút.  
* Trị mụn ngứa, lở loét do sâu lông, vết cắn của côn trùng, động vật: Vò nát, xoa xát, đắp buộc bằng lá, ngọn Kim thất. Khỏi sau vài giờ.
* Chữa bong gân: Giã nát 2 ngọn Kim thất đắp lên chỗ viêm gân, đau nhức sau đó dùng một lá Đại Tướng Quân hơ lửa cho nóng, quấn quanh bàn chân đã đắp Kim thất giả nhỏ, buộc hoặc băng bên ngoài để giữ ổn định. Sau 6 – 8 giờ sẽ khỏi.  
* Bị ngộ độc do thức ăn: Dùng máy xay sinh tố để xay 6-8 ngọn Kim thất cùng với 100-200 ml nước, phân làm 2 lần uống cách nhau 2 giờ. Nhanh chóng hấp thụ bớt độc tố, làm giảm tác dụng chất độc.  
* Chữa mất ngủ: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim thất, hoặc xào hay nấu canh ăn, sẽ có tác dụng an thần, điều hòa máu huyết, tạo điều kiện thuận lợi cho giấc ngủ tốt.  
* Chữa nhức răng: Giã nát một ngọn Kim thất, dùng từng phần để nhai ngậm chổ răng đau, sẽ mau chóng giảm đau.  
* Thấp khớp, cảm giác kiến bò tại các bàn chân, bàn tay: Giã nát một ngọn Kim thất, xoa xát tại nơi đau nhức, xơ cứng các khớp. Giảm ngay sự đau nhức khó chịu sau vài phút. Trường hợp thấp khớp kinh niên, thường xuyên uống mỗi tối vài ngọn đã xay máy sinh tố.  
* Viêm đại tràng mản tính: Dùng máy xay sinh tố xay mỗi ngày 6 ngọn Kim thất với 120 ml nước, chia làm hai để uống vào mỗi buổi sáng và tối. Thường xuyên ăn canh Kim thất, hoặc xào để ăn vào các bửa cơm. Sẽ khỏi đau sau vài tháng.  
* Người không bệnh gì cả: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim thất, hoặc xào, nấu canh sẽ có tác dụng tốt làm cho máu huyết được lưu thông, điều hoà, tăng cường sức khoẻ, chống bệnh ...Điều hòa huyết áp, điều hòa và tăng cường các chức năng nội tiết.

Dưa gang: Dưỡng huyết, an thai


Dưa gang được trồng phổ biến ở Việt Nam tên khoa học là Cucumis melo L. thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae). Quả dưa gang có hình trụ với nhiều sọc dọc, màu xanh lục hoặc màu vàng, thịt trái khi còn sống thì cứng giòn, khi chín thì mềm bở có vị nhạt. Quả dưa non làm rau ăn sống, làm gỏi, nấu canh, muối, ngâm giấm, ép lấy nước; dưa chín ăn với đường đá rất mát.
Theo Đông y, dưa gang còn gọi là hoàng qua, sinh qua, bạch qua, việt qua, tiêu qua… Dưa gang có vị ngọt, tính mát, có tác dụng giải khát, thông khí, lợi tiểu. Trong những ngày hè, ăn dưa có thể phòng ngừa được cảm nắng, lợi tiểu.
Mùa hè nóng bức, người dân thường ăn dưa gang với đường cát, đường bát để thanh nhiệt. Dưa gang còn có tác dụng giải độc rượu: Dưa gang xay lấy nước uống; trị cảm nắng: Uống nước dưa gang hòa với bột sắn dây… Sau đây là một số tác dụng của dưa gang:
-Giúp phụ nữ dưỡng huyết, an thai: 10 cuống dưa gang, 300g bột gạo, đặt cuống dưa gang lên miếng ngói nung cháy thành than, nghiền với bột gạo sao thơm, hai thứ trộn đều với nhau, uống mỗi ngày 30g với nước ấm.
-Lợi tiểu: Dưa gang ăn sống, làm gỏi, sinh tố hoặc nấu canh.
-Rộp miệng: Dưa gang đốt thành tro nghiền bột, dùng để rắc đắp ngoài.
-Nóng bức, khó chịu, miệng khát: Dưa gang (1 quả), nấu chín làm canh, ăn bã, uống nước.
Ở nông thôn, các bà mẹ quê thường chọn dưa gang làm gỏi ăn trong mùa hè rất hiền và mát, được chế biến như sau:
Chọn những trái dưa thật tươi, không tì vết, vỏ còn xanh, cắt đôi theo chiều dọc bỏ hạt, thái mỏng đem ngâm với muối chừng năm phút cho lát dưa mềm, đem xả sơ qua với nước lạnh rồi vắt dưa ráo nước. Sau đó, phi dầu ăn với tỏi cho thật thơm sau đó cho tôm lột hoặc tép khô (đã làm sạch) vào xào sơ với gia vị cho thấm như nước mắm, tiêu, bột ngọt, ít đường cát… Sau đó nhắc xuống để hơi nguội rồi cho dưa đã vắt nước vào trộn đều với đậu phộng ( lạc) rang giã dập, rau thơm như ngò, rau răm, hổ điếc. Món gỏi này ăn với bánh tráng nướng vàng ruộm rất thơm ngon, mát lành.
Người dân thành phố thường chọn mua những quả dưa già, to tròn, cầm nặng tay (cơm dầy), vỏ quả dưa nứt nhiều (dưa sáp, thịt dẻo ngon) có mùi thơm thoang thoảng. Về nhà, gọt vỏ, bỏ hạt, xắt dưa thành từng viên cỡ con cờ, cho vào dĩa. Cho đường cát, sữa đặc và đá bào vào sẽ có món dưa đá thơm ngon, có lợi cho sức khỏe trong mùa hè hoặc có thể làm món “sinh tố dưa gang” bằng cách gọt vỏ dưa gang, bỏ hạt, xắt từng miếng phù hợp rồi cho vào máy ép sinh tố để ép lấy dung dịch. Thêm đường hoặc sữa đặc hay mật ong vào ly. Cuối cùng cho đá bào vào và thưởng thức sẽ “nghe” cái nắng nóng, mệt mỏi trong những trưa hè tan biến theo những hớp “nước dưa” mát lạnh thấm dần vào thực quản
Tuy nhiên ăn nhiều dưa gang sống dễ sinh đau bụng, người mới khỏi bệnh và tì vị hư hàn nên kiêng ăn.

Cây lựu - Chữa lỵ kinh niên



Cây lựu còn có tên gọi là tháp lựu, thạch lựu, an thạch lựu, đan nhược, kim bàng, kim tương, tạ lựu..., có tên khoa học là Puni-cagranatum L.
Là một loại cây nhỏ, thuộc mộc, cao chừng 3-4m, thân xám có vỏ mỏng, cành mảnh, lá đơn mọc đối, hình thuôn dài, mép nguyên cuống ngắn. Hoa lựu màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) mọc riêng lẻ, hoa thường nở về mùa hè. Quả da màu lục, khi chín màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có nhiều hạt mọng với sắc hồng trắng, có vị ngọt, thơm. Cây lựu được trồng để làm cảnh, làm thuốc và lấy quả ăn với nhiều dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất...
Theo Đông y, vỏ quả lựu vị chua, chát, tính ôn, có tác dụng làm săn ruột, cầm tiêu chảy, trừ giun. Vỏ rễ có tác dụng tẩy sán (chú ý có độc). Vỏ quả lựu vị chua, chát, tính ôn, có tác dụng làm săn ruột, cầm tiêu chảy. Mới đây, các nhà khoa học đã chứng minh, quả lựu có chứa chất chống oxy hóa rất mạnh. Nước ép quả lựu, hạt lựu, vỏ lựu có tác dụng hạ cholesterol, chống lão hóa, chữa bệnh hẹp động mạch cảnh (uống nước ép quả lựu liên tục 30 ngày có kết quả rõ rệt).
Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh:
- Trị tiêu chảy hoặc tiêu ra máu, di tinh, bạch đới, lỵ trực khuẩn: Vỏ quả lựu 15 g, sắc 3 lần, mỗi lần với một bát nước, cô lại còn 250 ml, chia làm 3-4 lần uống trong ngày cho đến khi khỏi bệnh.
- Chữa nổi mày đay, mẩn ngứa do nhiệt: Vỏ quả lựu tươi, ké đầu ngựa, bèo cái, bồ công anh, thổ phục linh, hà thủ ô, mỗi loại 12 g xác ve sầu, mã đề, cam thảo đất, mỗi thứ 8g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 750 ml nước trong 15 phút, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Mỗi liệu trình 3-5 ngày.
- Chữa chảy máu cam: Hoa lựu 6g, rửa sạch cho 250 ml nước, sắc còn 100 ml, chia 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 5-7 ngày.
- Chữa lỵ kinh niên, phân có máu, mủ: Vỏ quả lựu, a giao, đương quy mỗi thứ 10 g, hoàng liên, hoàng bá, gừng tươi mỗi thứ 5 g, cam thảo bắc 3 g. Sắc 3 nước, cô lại còn 250 ml, chia làm 4 lần uống trong ngày, uống 7-10 ngày.
- Chữa ho do nhiễm lạnh: Hoa lựu trắng tươi 24 bông, đường phèn 15g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 500 ml nước trong 15 phút, sắc còn 150 ml, chia 2 lần uống trước khi đi ngủ. Mỗi liệu trình 7-10 ngày.
- Tẩy giun đũa, giun kim, giun tóc: Vỏ quả lựu 15 g, hạt cau già 10g. Sắc 3 lần rồi cô lại còn 100ml rồi thêm 20g đường cát. Uống vào buổi tối trước khi đi ngủ (sau khi ăn 3 giờ), liên tục trong 3 ngày.
- Sâu răng: Vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm về phía răng sâu.
- Hỗ trợ trị viêm tiền liệt tuyến: Hoa lựu tươi 30g nấu canh với thịt lợn ăn hàng ngày.
Chú ý: Vỏ quả lựu cần sao khô, giã cho dập thành bột thô rồi mới sắc để phát huy hết tác dụng. Hoa, vỏ quả và vỏ rễ thạch lựu không nên dùng cho người bị táo bón

Wednesday, June 27, 2012

Vị thuốc từ cây me

Trái me có tác dụng mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực, chữa nóng quá sinh phiền khát, tiểu đỏ sẻn, trị nóng rát cổ, ho khản tiếng. 
Ở Việt Nam, me được trồng phổ biến từ lâu, từng hàng me xanh mướt dọc đường phố, đường làng ngõ xóm, trong các vườn cây ăn quả. Các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc: trái me dưỡng can, minh mục, hoá tích, tán bì, sát khuẩn, thoái nhiệt, chỉ khát, mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực, chữa nóng quá sinh phiền khát, tiểu đỏ sẻn, trị nóng rát cổ, ho khản tiếng. 

Một số cách dùng me chữa bệnh 

- Nôn nghén, chán cơm khi có thai: Quả me 30g, đường trắng 10g. Me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun sôi kỹ còn 200ml, chắt nước bỏ bã, cho đường quấy đều chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp. Có thể dùng mứt me, ô mai me cam thảo để ngậm. 

Quả me chín có tác dụng chữa táo bón. 

- Bệnh gan mật gây vàng da: Thịt quả me 20 -120g pha đường đủ ngọt uống trong ngày với liều trẻ em 3 tuổi: 5g, 5 tuổi:10g, 12 tuổi: 30g. Quả me nghiền nát bỏ xơ, cứ 50g thịt quả me trộn với 125g đường cho vào 500g đun còn 200g. Để uống chữa sỏi mật đồng bào vùng Đồng Tháp Mười dùng hạt rang vàng xay bột mịn uống với nước đun sôi để nguội. 

- Trẻ em mùa hè rôm sảy, mẩn ngứa: Dùng lá me nấu nước tắm. 

- Táo bón: Ăn quả me chín hoặc sắc nước gỗ me uống. 

- Viêm lợi, răng: Vỏ cây me sắc nước đặc ngậm, súc miệng. 

- Chảy máu ngoài da: Cầm máu bằng rắc bột vỏ cây me hoặc giã đắp. 

- Tẩy giun: hạt me rang chín tán bột 190g, 160g bột quả dun (sử quân tử đã bào chế kỹ tránh gây nấc), đường vừa đủ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi sáng 3 viên uống 3 sáng liền. Không phải dùng thuốc tẩy. 

- Viêm kết mạc: Lá me rửa thật sạch đủ để hãm vào cốc nước thật sôi lấy nước để rửa mắt. 

- Bồi dưỡng chữa suy nhược: vitamin C có nhiều ở quả chữa chảy máu chân răng. Vitamin B có nhiều ở búp lá, lá non dùng để pha nước uống, hoặc làm rau ăn hằng ngày.