Showing posts with label BÀI THUỐC TỪ RAU. Show all posts
Showing posts with label BÀI THUỐC TỪ RAU. Show all posts

Wednesday, August 22, 2012

Rau ngổ trị sỏi thận



Cây rau gia vị có tên là rau ngổ, ngò om, ngổ hương, ngổ thơm, ngổ điếc…, có tên khoa học là Limnophila aromatica. Rau ngổ là cây thân thảo có chiều cao khoảng 20 cm, thân xốp có nhiều lông. Lá nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân.
Phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa. Hoa gần như không cuống mọc đơn độc ở nách lá. Quả nang nhẵn, có bướu và nếp nhăn dọc theo quả, ngắn hơn lá đài. Hạt nhẵn hình trụ có màu đen nhạt, có vân mạng. Thân và lá có mùi rất thơm nên được trồng (hoặc mọc hoang) làm rau gia vị.
Theo các thầy thuốc, rau ngổ có vị cay, thơm, hơi chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, chỉ khái, giải độc, tiêu thũng, trừ viêm, chống sưng, giảm đau, sát trùng đường ruột, đường tiểu, trị sỏi thận, sốt nóng, chống lão hóa, ngừa ung thư... Dưới đây là một số công dụng của cây rau ngổ.
-Trị sỏi thận: Dùng rau ngổ giã nhỏ, lấy nước pha ít hạt muối, uống ngày 2 lần vào sáng và chiều (uống liền trong 7 ngày).
- Trị vết thương ngoài da gây mủ: Giã nát vài ba cây rau tươi, đắp lên vết thương.
- Trị cảm ho: Sắc khoảng 20 g cây tươi, uống.
- Trị rắn cắn và trị sạn thận: Lấy từ 50 - 100 g rau ngổ tươi xay làm sinh tố uống mỗi ngày (uống trong 15 - 30 ngày) hoặc nấu với 2 chén nước, sôi 20 phút để uống.
Trong ẩm thực, rau ngổ là một loại rau gia vị được dùng nhiều trong các món ăn như làm rau sống, ăn kèm với phở, hủ tiếu hoặc nấu canh chua với cá biển, cá đồng mang lại hương vị đặc biệt thơm ngon và ngăn ngừa nhiều bệnh. Món canh chua cá lóc nấu rau ngổ được chế biến như sau: Cá lóc làm sạch, cắt khúc ra ướp cho thấm với bột nêm, nghệ tươi giã dập, tiêu bột, hành tím. Lặt và rữa thật sạch rau ngổ để ráo. Phi dầu ăn với tỏi cho thơm, sau đó cho cá đã ướp vào tao cho thơm. Tiếp tục cho nước sôi (vừa đủ) vào soong đun nhỏ lửa cho tới khi sôi thì cho măng chua, khế, cà chua vào nấu tiếp. Khi nồi canh sôi lại vài dạo thì nhắc soong xuống bếp và cho tiếp rau ngổ, hành lá vào soong và nêm nếm lại cho vừa ăn.
Rau ngổ có nhiều tác dụng khá hay. Tuy nhiên do thân cây có nhiều lông tơ nên khó rửa sạch hết các vi khuẩn gây bệnh nên khi chế biến các món ăn, nhất là các món ăn sống hoặc dùng làm thuốc trị bệnh cần phải rửa rau cho thật sạch, nếu có thể ngâm thêm với thuốc tím, nước muối nhằm tránh ngộ độc thức ăn từ rau ngổ. Ngoài ra, rau ngổ dễ bị lẫn với rau ngổ trâu (Enhydra fluctuans Lour.) thuộc họ Cúc (Compositae), là loại cây sống nổi trên mặt nước hay ngập nước

Rau ngót tạo hưng phấn tình dục



Rau ngót còn gọi là bồ ngót, tên khoa học là Sauropus androgynus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Rau ngót thuộc dạng cây bụi, có thể cao đến 2 m, phần thân khi già cứng chuyển màu nâu. Lá cây rau ngót hình bầu dục, mọc so le; sắc lá màu lục thẫm. Rau ngót được trồng rất phổ biến hoặc mọc hoang khắp nơi. Người dân vừa dùng lá (đọt hoặc lá non) nấu canh với tôm hoặc các loại thịt và dùng rau ngót để chữa trị một số bệnh.
Theo các thầy thuốc, rau ngót có vị ngọt, được dùng làm thuốc thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tăng tiết nước bọt, hoạt huyết, tiêu ứ, bổ huyết, cầm máu, nhuận tràng, sát khuẩn, tiêu viêm, sinh cơ, phòng chống loãng xương ở người lớn tuổi, chữa thiếu máu, phòng ngừa táo bón, giảm cân và điều hoà lượng đường trong máu, tạo nhiều sữa cho sản phụ... Đặc biệt, theo trải nghiệm gần đây, ăn thường xuyên rau ngót (đã nấu chín) giúp cho cánh “mày râu’ cải thiện chất lượng tinh trùng và nhờ rau ngót chứa một nhóm hoạt chất sterol có tác dụng như hormone sinh dục nên có thể tạo hưng phấn tình dục. Sau đây là những tác dụng chính của rau ngót:
- Trị chứng đái dầm ở trẻ em: 40g rau ngót tươi rửa sạch, giã nát, sau đó cho một ít nước đun sôi để nguội vào rau ngót đã giã, rồi khuấy đều, để lắng và gạn lấy nước uống. Phần nước gạn được chia làm hai lần để uống, mỗi lần uống cách nhau khoảng 10 phút.
- Trị tưa lưỡi ở trẻ em: Lấy 10g lá tươi, rửa sạch, giã nhỏ vắt lấy nước, thấm vào gạc mềm, sạch, đánh trên lưỡi (tưa trắng), lợi, vòm miệng trẻ em. Đánh nhẹ cho tới khi hết tưa trắng.
- Trị đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: Lấy 30g rau ngót, 30g bầu đất, 1 quả bầu dục lợn rồi nấu canh cho trẻ ăn. Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng lại có tác dụng chữa bệnh, mà nó còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn. Đặc biệt, canh rau ngót nấu với thịt lợn nạc hoặc giò sống... không chỉ tốt cho trẻ em mà còn rất tốt cho cả người lớn bởi nó là một vị thuốc bổ, giúp tăng cường sức khoẻ với người mới ốm dậy, người già yếu hoặc phụ nữ sau khi sinh sẽ tiết nhiều sữa.
Ngoài ra, có một bài thuốc rất công hiệu để chữa các dạng hôn mê do sốt xuất huyết hoặc tai biến mạch máu não, gồm có các vị như sau: Giun đất phơi khô 50g, đậu đen 100g, lá bồ ngót phơi khô, sao qua (200g). Dùng 4 chén nước sắc còn lại nửa chén, chia làm 2 lần cho người bệnh uống hoặc đổ vào miệng.
Rau ngót có nhiều dinh dưỡng, nhưng các thầy thuốc khuyến cáo không nên ăn theo dạng tươi mà cần phải nấu chín và phụ nữ có thai không nên ăn rau ngót do trong bồ ngót tươi có chứa papaverin nên nếu dùng trên 30 gam lá tươi thì có nguy cơ sẩy thai.

Cần tây chữa cao huyết áp



Cần tây còn gọi cần cạn (trồng trên đất), cần lá to, cần thơm, dương khổ thái, có tên khoa học: Apium gaveolens, trong dân gian thường dùng làm rau ăn và chữa một số bệnh rất hiệu quả. Theo Đông y, cần tây có vị ngọt đắng, the mát, có công dụng dưỡng huyết mạch, lợi tỳ ích khí, thanh nhiệt, hạ hỏa, lợi đại tiểu tiện, tiểu đường, giảm ho, khử phong thấp, vết máu bầm, tan hạch ở cổ...
Theo y học hiện đại, chất xơ trong rau cần làm gia tăng tính mẫn cảm của insulin làm hạ đường huyết, bảo vệ tuyến tụy, ngừa xơ cứng mạch; tinh dầu có tính kháng khuẩn, kích thích tiêu hóa. Cần tây được dùng “lọc” máu có mỡ máu cao, chữa tăng huyết áp, giảm béo, kích thích tuyến thượng thận, giải nhiệt, lợi tiểu, thông mật, chống hoại huyết (chảy máu), kháng khuẩn, lành vết thương, chữa thấp khớp kể cả thống phong (gút), sỏi tiết niệu, các bệnh phổi, viêm miệng họng và chữa một số bệnh ngoài da.
Để chữa suy nhược thần kinh, phòng ngừa cao huyết áp, rối loạn chức năng tiêu hoá, gan, thận…nên thường xuyên dùng những món ăn chế biến từ rau cần tây, một loại rau dễ tìm, có lợi cho sức khoẻ. Sau đây là công dụng của cần tây:
 - Chữa viêm miệng, họng: Cần tây tươi (50g) rửa sạch giã nát với ít muối rồi vắt lấy nước cốt súc miệng. Nếu bị viêm họng thì ngậm, hoặc nuốt dần.
- Chữa khó tiêu, biếng ăn: Cần tây tươi ăn làm rau sống ăn hằng ngày khoảng 30g.
- Chữa bí tiểu tiện: Rửa sạch 50g cần tây tươi và vò nát, hãm trong nước sôi uống dần.
- Chữa nội nhiệt, phục nhiệt trong máu: Nấu canh cần tây với tôm, thịt ăn hằng ngày.
- Chữa mỡ trong máu cao, tăng huyết áp: Cần tây (500g), táo đen bỏ hạt (250g). Nấu chín, uống nước, ăn cái.
- Chữa tiểu đường (kèm mất ngủ): Rễ rau cần tây (90g), toan táo nhân (10g). Nấu nước uống.
- Chữa phong thấp: Cần tây tươi (1kg toàn cây), phơi khô mỗi lần dùng 150g sắc còn 3 bát còn 1 bát chia 3 lần uống trong ngày.
- Chữa thận dương hư, tăng huyết áp: Cần tây (100g), củ năng (20g), đỗ trọng (10g), thịt bò tươi (200g), các vị thái nhỏ, nước luộc gà (300ml). Phi thơm hành, dầu rồi cho các vị vào đảo đều. Tiếp tục cho nước luộc gà vào đun nhỏ lửa 25-30 phút. Chia 2-3 lần ăn trong ngày, ăn nóng.
- Chữa da lở loét: Cần tây tươi (30g) rửa sạch, giã nát, đắp lên vết lở loét. Khi vết thương đã khô, lấy nước cốt thoa lên thường xuyên sẽ chóng lên da non, sẹo đẹp.
- Chữa tăng huyết áp: Toàn cây cần tây (100g) sắc lấy nước uống hằng ngày (chia 3 lần) uống đến khi thấy huyết áp ổn định thì thôi.
- Bổ thận hạ huyết áp: Cần tây (100g), quả dâu ta chín (100g), nấm hương (30g), thịt nạc heo (100g) và gia vị. Phi thơm dầu với tỏi cho thơm sau đó cho thịt heo đã ướp gia vị và dâu ta, nấm hương vào đảo đều cho thấm. Tiếp tục cho nước luộc gà (300ml). Đun nhỏ lửa 25-30 phút chia 2-3 lần ăn trong ngày.
Cần tây có chứa nhiều dinh dưỡng và chữa nhiều bệnh. Tuy nhiên, các bà nội trợ không nên cất giữ rau cần tây trong tủ lạnh quá 1 tuần vì chất furanocoumarin trong cần tây sẽ tăng gấp 2,5 lần, nếu ăn sẽ bị ngộ độc và những người bị huyết áp thấp không nên dùng cần tây.

Nghệ trắng trị thấp khớp


Nghệ trắng (Wild tumeric) còn có tên khác là nghệ rừng, ngải dại, ngải mọi, ngải trắng, nghệ thơm, tiếng Pa-cô là Tara-hau-hen, tên khoa học là Curcuma aromatica, thuộc họ gừng.
Là loài của Á châu nhiệt đới, phân bố ở hầu khắp rừng nước ta. Nó cũng thường được trồng trong các vườn gia đình để lấy củ thơm và có bột như bột Hoàng tinh. Thu hoạch thân rễ vào mùa thu hay đông, loại bỏ rễ con, rửa sạch, ngâm nước 2 – 3 giờ, ủ mềm, bào mỏng, phơi khô hay sấy khô.
Là cây thảo cao khoảng 20 – 60cm có khi 1m, có thân rễ khỏe, với những củ hình trụ mọc tỏa ra có đốt, ruột màu vàng. Lá rộng hình giáo, nhẵn ở mặt trên, có lông mềm mượt ở mặt dưới, dài 30 – 60cm, rộng 10 – 20cm; cuống lá ngắn ôm lấy thân.
Theo các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc, củ nghệ trắng chứa nhiều hoạt chất thuộc nhóm curcuminoit có tác dụng kháng sinh mạnh, nên được công nhận là thảo dược có nhiều lợi ích trong y học. Trong thành phần nghệ trắng còn có chứa một chất dầu bay hơi có mùi thơm vị cay, có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa một số bệnh ung thư do tác dụng tiêu diệt và loại bỏ các khối u.
Các chuyên gia sức khoẻ Hoa Kỳ đang tiến hành một cuộc thử nghiệm, điều trị bệnh ung thư ruột bằng một loại thuốc được chế biến từ củ nghệ. Nên có lời khuyên nếu thường xuyên ăn nghệ này trong các bữa ăn sẽ giảm được nguy cơ ung thư ruột. Hay ăn nghệ cùng với ăn nhiều rau xanh, có thể ngăn ngừa được nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.
Các nhà khoa học tại New Jersey (Mỹ) đã chứng minh rằng, kết hợp ăn nghệ với bông cải xanh, cải xoắn, củ cải và bắp cải có thể bảo vệ bạn chống lại căn bệnh chết người này.
Đông y cho rằng, nghệ trắng có vị cay, đắng, tính mát; có tác dụng hành khí giải uất, lương huyết phá ứ lợi mật, trừ hoàng đản. Thường dùng trị tức ngực, trướng bụng; nôn ra máu, chảy máu cam, đái ra máu; viêm gan mạn, xơ gan đau nhức, hoàng đản; kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh; động kinh. Ngoài ra còn dùng củ giã ra ngâm trong rượu hoặc sao lên trộn lẫn với những vị thuốc khác để trị đau thấp khớp.
Dưới đây là một số cách sử dụng nghệ trắng trị bệnh.
* Chữa ho gà, thấp khớp: Giã 10g nghệ trắng, tẩm rượu, cho vào lọ kín hấp cách thủy trong 1 giờ, chắt lấy nước uống trong ngày.
* Phong thấp, bong gân, sai khớp: Củ nghệ trắng 10g, rễ ô đầu 10g, nhân hạt gấc 10g. Tất cả giã nhỏ, ngâm rượu với mật gấu hay mật trăn sau 1 tháng là được, dùng xoa bóp.
* Đau bụng kinh, bổ máu sau khi sinh: Nghệ trắng 20g, lá nhọ nồi 20g, củ gấu 20g, lá mần tưới 20g, tô mộc 16g, ngải cứu 12g. Tất cả sao vàng sắc với 400ml nước còn khoảng 100ml, chia 2 lần uống trong ngàỵ
* Phong thấp, bong gân, sai khớp: Củ nghệ trắng 10g, rễ ô đầu 10g, nhân hạt gấc 10g. Tất cả giã nhỏ, ngâm rượu với mật gấu hay mật trăn sau 1 tháng là được, dùng xoa bóp.
* Chảy máu cam, nôn ra máu, đái ra máu, viêm gan: Nghệ trắng, địa long (giun đất), đơn bì, chi tử mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
* Nôn ra máu: Nghệ trắng 10g, Địa long 10g, Đơn bì 10g, Chi tử 10g, sắc uống.
Cần lưu ý là ba loại nghệ tuy hình dáng thân cây, lá và hoa trên mặt đất hơi giống nhau, nhưng rễ hoàn toàn khác nhau về màu sắc, kích cỡ, hình dáng, mùi vị và tác dụng.
 Nghệ vàng có màu vàng sặc sỡ hơn đã được nghiên cứu và được dùng rất phổ biến trên toàn thế giới, có tác dụng tốt chữa đau dạ dày và làm lành các vết loét dạ dày, trong khi các loại còn lại ít sắc tố hơn và công dụng cũng khác nhau, nhưng nhiều người cứ dùng lẫn lộn rồi truyền miệng mà không có một chứng cứ khoa học nào.
Nghệ trắng cũng được cảnh báo là không dùng cho phụ nữ mang thai vì có nhiều nguy cơ sảy thai, không được dùng trước hoặc sau khi tiến hành phẫu thuật vì làm chậm quá trình đông máu gây chảy máu nhiều, có thể dẫn đến tử vong. Dù sao khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào kể cả thảo dược thiên nhiên cũng cần tham khảo ý kiến các chuyên gia.

Nấm kim châm - Vị thuốc quý



Nấm kim châm (NKC) còn gọi là nấm kim tuyến. Ở Việt Nam quen gọi NKC. Nấm có 2 màu: màu nâu vàng hoặc vàng nhạt gọi là NKC (kim là vàng). Nấm có màu trắng gọi là nấm ngân châm (ngân là bạc). Ở Hà Nội có bán NKC Hàn Quốc để trong túi nilông trông như những cọng giá dài trắng khoảng dưới 10cm và có nụ tròn ở đầu.
Trong NKC có 16 loại axít amin trong đó có 8 loại cần thiết cho cơ thể con người, trong đó có nhiều lysin và kẽm giúp trí nhớ và trí lực của trẻ phát triển, cho nên được gọi là “nấm tăng trí nhớ của trẻ” và “nấm ích trí”. Do có nhiều kali nên NKC rất thích hợp với người tăng huyết áp, phòng chữa tai biến mạch máu não. NKC giảm hàm lượng cholesterol và thúc đẩy nhu động ruột và dạ dày nên chống béo phì. Thường xuyên ăn NKC có thể phòng và trị bệnh gan và bệnh loét dạ dày. NKC còn có tác dụng chống mệt mỏi, tăng sức đề kháng, chống khuẩn tiêu viêm, bài tiết các kim loại nặng khỏi cơ thể...

Một số món ăn, bài thuốc có sử dụng NKC

- Thanh nhiệt giải độc, hạ huyết áp: NKC tươi 250g, giá đậu xanh 150g, gia vị, muối, xì dầu, mì chính, gừng, dấm, tiêu bột, dầu thơm. NKC bỏ gốc rửa sạch, giá đậu đãi vỏ rửa sạch, chần giá và nấm bằng nước sôi vớt ra để ráo, sau đó trộn với các gia vị trên.

- Bệnh gan, suy yếu tình dục: NKC tươi 100g, tôm nõn 50g, gia vị: lá cải thìa 200g, nước dùng gà 750g, dầu rán, dầu thơm, muối, mì chính, hành, gừng. NKC bỏ gốc rửa sạch, lá cải thìa rửa sạch thái sơ. Cho dầu vào chảo đun nóng, đổ tôm nõn, hành, gừng, lá cải vào xào qua rồi đổ nước dùng gà vào cùng với NKC, muối đun sôi. Cuối cùng nêm mì chính, dầu thơm là được.

- Can thận yếu, suy giảm tình dục, tiêu hóa kém. Dùng thích hợp với sản phụ suy nhược cơ thể, kém ăn:

Cá trê 1 con khoảng 500g; NKC một ít; gừng, tỏi, hành thái nhỏ, mộc nhĩ lượng vừa đủ; muối 1/4 thìa con; tinh bột 1/2 thìa con, hạt tiêu 1 ít. Xì dầu 1/2 thìa canh, nước 1 cốc, đường 1 thìa con, muối 1/4 thìa con, dầu vừng, hạt tiêu 1 ít. Cá trê làm sạch đem ướp gia vị, rán qua, gắp ra để ráo dầu. NKC cùng mộc nhĩ ngâm mềm, tráng nước sôi, để ráo. Phi thơm gừng, tỏi, cho NKC, mộc nhĩ đảo nhanh, tra rượu, gia vị, đun sôi, cho cá, om đến khi nước cạn đặc, tra hành.

- Bổ khí huyết, lợi thủy tiêu thũng, hoạt huyết điều kinh, mạnh gân cốt, dùng thích hợp cho người bị ho do phổi yếu, trĩ ra máu, kiết lỵ ra máu, huyết ứ sau khi đẻ: chim cút 4 con, nấm hương 2 cái, táo tàu 2 quả; NKC, mộc nhĩ, gừng, hành vừa đủ dùng. Nước gừng, rượu mỗi thứ 1/2 thìa con, muối 1/4 thìa con, tinh bột, xì dầu mỗi thứ 1 thìa con, đường 1/8 thìa con, dầu vừng, hạt tiêu một ít. Nấm hương ngâm mềm, bỏ đế cuống rửa sạch, thái sợi, NKC, mộc nhĩ ngâm mềm, nhúng qua nước sôi, rửa sạch để ráo, táo tàu bỏ hạt rửa sạch. Chim cút làm sạch, bỏ nội tạng, lọc xương lấy thịt, thái miếng mỏng, đem ướp cùng nấm hương, NKC, mộc nhĩ, gừng, táo tàu, rắc hành phía trên. Đun to lửa hấp cách thủy 10 phút, tưới ít mỡ nước, ăn lúc còn nóng.

- Trẻ em thỉnh thoảng bị chảy máu cam. Do có hỏa táo hoặc nhiệt khí, nên dùng NKC để làm thức ăn trị liệu. Nếu không có NKC còn tươi thì dùng NKC thái khô. Mỗi lần dùng NKC chừng một lạng, phối hợp với cá hoặc thịt, nấu canh cho trẻ dùng theo bữa cơm. Cứ một tuần lễ dùng 2 lần sẽ có hiệu quả rõ rệt.

- Phòng chữa loãng xương, tăng huyết áp: 2 thanh đậu phụ, 150g nấm linh chi, nấm rơm, NKC, 50g thịt cua, 2 thìa cà phê tỏi, hành xay, 2 thìa súp nước dùng, 1 thìa cà phê bột năng, dầu ăn, gia vị đậu tương, 1 thìa cà phê đường, 1/2 thìa cà phê tiêu, 1 thìa cà phê dầu mè, 1/2 thìa súp tương ớt. Rửa nấm, thái nhỏ, phi hành, tỏi, cho thịt cua, nấm vào xào, nêm gia vị. Cho nước dùng đun sôi, cho bột năng pha loãng vào, thái đậu phụ thành miếng, cho sốt lên, hấp 5 phút.

- Phòng chữa béo phì, thanh nhiệt giải độc (NKC trộn dưa giá): NKC 200g, giá đậu xanh 200g, 1/2 củ cà rốt, 1/2 quả dưa leo, 1 quả ớt sừng, 10g ngò rí, trộn đều với 1 thìa súp dấm, 1 thìa cà phê nước mắm, 1/2 thìa súp đường, 1/2 thìa cà phê muối, 1/2 thìa cà phê ớt băm. NKC cắt gốc, rửa sạch, để ráo nước. Giá đậu xanh rửa sạch, ngắt bỏ đầu và gốc. Cà rốt gọt vỏ, cắt sợi. Dưa leo bỏ ruột, cắt lát mỏng, ớt sừng bỏ hạt, cắt miếng. Cho NKC, giá, dưa leo, ớt sừng, ngò rí vào thố, rưới nước trộn vào trộn đều.

Lưu ý: Cần phân biệt với hoa kim châm là hoa hiên làm cảnh, cũng được dùng làm thức ăn và thuốc.

Củ cải và tác dụng phòng chữa bệnh


Củ cải không chỉ là thức ăn ngon mà còn có rất nhiều tác dụng chữa bệnh.
CỦ CẢI ÍT NĂNG LƯỢNG NHƯNG GIÀU CHẤT KHOÁNG

Củ cải được xếp vào hàng các thực phẩm ít năng lượng nhất. 100 g Củ cải chỉ cung cấp 15 kilocalo. Chất đạm và chất béo trong Củ cải chiếm một vị trí hết sức khiêm tốn. Chính những glucide có trong Củ cải mới đóng vai trò chủ đạo. Đa số các glucide này được cấu tạo bởi các đường glucose và fructose, còn lại là một số đường ít thông dụng hơn như pentosa hoặc hexane (các đường này chỉ được đồng hoá một phần).

Tuy nhiên, Củ cải lại rất giàu chất khoáng và các nguyên tố vi lượng. Vì mọc dưới đất nên Củ cải tập hợp được chất khoáng và vi lượng trong thời gian chúng phát triển trong lòng đất. Hàm lượng Kali cao trong Củ cải có tác dụng bài niệu tốt (lượng natri thấp trong củ cải càng phát huy tác dụng lợi tiểu). Hàm lượng can xi trong Củ cải cũng rất cao. Tỉ lệ canxi / phốtpho lớn hơn 1, tạo thuận lợi cho việc đồng hoá can xi. Ngoài ra, sự có mặt của manhê và lưu huỳnh cũng rất đáng kể.

Cuối cùng, Củ cải cung cấp chất sắt (sự có mặt của đồng trong Củ cải giúp cơ thể hấp thu sắt tốt hơn), kẽm, fluor, iốt và selen. Có thể hình dung như sau để so sánh tỉ lệ giữa năng lượng và các chất khoáng mà Củ cải cung cấp cho cơ thể: Nếu ăn một lượng Củ cải đủ để nạp vào cơ thể 100 calo, bạn có thể nhận được tới 1620mg kali; 133mg canxi; 47mg manhê; 5,3mg sắt…

CỦ CẢI CHỨA NHIỀU SINH TỐ

Củ cải còn là một nguồn vitamin C dồi dào bởi 100 g Củ cải chứa 23mg vitamin C, nghĩa là 1/3 lượng vitamin C được khuyên dùng cho mỗi người lớn mỗi ngày (80mg). So với các loại rau khác, nhất là rau lá, thì rau rễ như Củ cải “bảo quản” vitamin C tốt hơn. Củ cải có thể ăn sống, nên không sợ mất vitamin C trong quá trình nấu nướng.

Người ta còn tìm thấy trong Củ cải nhiều vitamin nhóm B (nhất là vitamin B9 hoặc axít folic, vitamin B3 hoặc PP và vitamin B6) và một lượng nhỏ tiền sinh tố A (caroten).

CỦ CẢI PHÒNG BỆNH UNG THƯ

Củ cải được xếp vào nhóm các cây họ Cải (như Bắp cải chẳng hạn). Nhóm các cây này có chứa những thành phần đặc biệt như inđola hay gluconisate. Các nhà nghiên cứu rất quan tâm tới các thành phần này vì họ nhận thấy chúng có vẻ có khả năng ức chế hoặc ngăn chặn các tế bào u ác tính phát triển. Ngoài ra, trong Củ cải còn thấy có các glucosinolates, có tác dụng sản sinh ra các sénevol có khả năng kháng khuẩn, các isothiocyanates de phényl – éthyle và benzyle cũng đóng vai trò trong việc ngăn ngừa ung thư.

Có thể nói, Củ cải là một lá chắn chống lại các bệnh ung thư, nhất là ung thư dạ dày và ung thư đại tràng.

CỦ CẢI VÀ CHỨC NĂNG TIÊU HOÁ

Củ cải chứa rất nhiều chất xơ (100 g Củ cải có 1,5 g chất xơ). Các chất này có thành phần chủ yếu là xeluloza và hemixeluloza. Nếu được ăn sống, các chất xơ trong Củ cải sẽ phát huy tác dụng nhuận tràng rất tốt.

Các thành phần lưu huỳnh có trong Củ cải (nhất là các glucosides) chính là chất gây vị hăng ở Củ cải. Các chất này kích thích tiết dịch vị và giúp tiêu hóa tốt. Tuy nhiên, có những người không thích vị hăng này. Vậy các bạn hãy chọn các củ tươi, non, nhỏ, và nhớ nhai kĩ nhé

Tuesday, July 17, 2012

Rau đắng

Rau đắng có tên gọi là biển súc, cây càng tôm, cây xương cá.  Tên khoa học: Polygonum aviculare – L
Cây nhỏ mọc bò, thân và cành mọc toả tròn gần sát mặt đất màu đổ tím đôi khi mọc cao từ 10 – 30cm, giống như rau muống biển.
Lá nhỏ hẹp,mọc so le có bẹ chia. Phiến lá dài 1,5 – 2cm rộng 4 cm. Hoa nhỏ màu hồng tím mọc tụ từ 1 – 5, thường từ 3 – 4 hoa mọc kề cạnh lá. Quả có 3 cạnh chứa một hạt đậu đen. Mùa hoa từ tháng 5 – 6 và cả mùa hè.
Rau đắng mọc hoang ở những vùng đất có độ ẩm ướt vừa, hoặc đất pha cát ướt như ven dọc bờ biển miền Trung, nhất là các tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.
Cũng có nơi gieo hạt trồng làm thuốc và rau ăn, trong bữa ăn hàng ngày nhân dân miền đất Quảng Nam - Đà Nẵng nhất là phố cổ Hội An thường có rau đắng coi như món ăn đặc sản trong đỉa rau sống có nhiều gia vị khác ở vùng rau sạch ở miền làng rau Trà Quế – Hội An, hoặc rau đắng luộc trộn với muối mè ăn rất ngon, người ta còn dùng rau đắng trong ăn lẩu.
Trong rau đắng có 0,35% chất tanin, 900mg Vitamin C ở rau đaắng khô, 39% carôten; Flavonozit avicularin; khi (thuỷ phân avicularin sẽ cho quercetin và L. arabinozo) Anthraglycozit. Ngoài ra còn có đường tinh dầu, nhựa, sáp. Độ tro 2,44%.

Rau đắng (biển súc) có vị đắng tính bình, không độc vào 2 kinh vị và bàng quang do đó có tác dụng rất tốt cho lợi tiểu, sát trùng, dùng trong những trường hợp thấp nhiệt, sỏi thận, mụn nhọt, giải độc, vàng da tắt mật. Rau đắng giã nhỏ cho ít muối đắp lên vùng da có sưng đau, nóng đỏ rất tốt.
Những người có cơ địa béo bệu, có bệnh lý vữa xơ động mạch (tăng cholesterol, Triglycerid máu), huyết áp cao, có đái khó, đái buốt, tăng cường hô hấp việc phải ăn rau đắng thường xuyên là rất tốt.

Chế phẩm rau đắng mang tên Avicularen, dịch chiết suất từ rau đắng với cồn 70o và bả của rau đắng sau khi chiết, là thuốc rất quý dùng cho phụ nữ sau khi sinh đẻ đạt kết quả tốt đến 60%.
Đơn thuốc rau đắng:

- Rau đắng 15 – 20g khô hoặc sấy khô sắc uống thường xuyên chữa đái khó, đái buốt, đái rắt, đái ra sỏi.

- Rau đắng và các vị khác:

Rau đắng khô 12g, hoạt thạch 10g, mộc thông 5g, mã đề 8g, cho nước 3 bát, sắc còn 1 bát chia 3 lần uống trong ngày chữa viêm bàng quang, viêm tiết niệu, giải nhiệt, giải độc nhất là ở những người có viêm gan vàng da, vàng mắt (Bilrubin trong máu cao) uống rất tốt.

Rau đắng một vị thuốc quý, càng quý hơn khi rau đắng luộc trộn với muối mè trong bữa ăn thường ngày, lại chữa và hạn chế sự phát triển được nhiều bệnh về vữa xơ động mạch, hô hấp, tiêu hoá gan mật, thận tiết niệu, rất rẻ tiền, đơn giản dễ tìm ở đâu cũng có, lại không có độc tính.


Cải xoong - rau ngon, dược thiện


Cải xoong (Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum) là một loại thực vật thủy sinh hoặc bán thủy sinh, sống lâu năm và lớn nhanh. Chúng có nguồn gốc từ Châu Âu, Trung Á và là một trong số những loại rau ăn được con người dùng từ rất lâu.
Cải xoong là thành viên của họ Cải (Brassicaceae). Về mặt thực vật học chúng có quan hệ họ hàng với rau tần và mù tạc. Tất cả chúng đều có mùi vị hăng và cay, được trồng ở hầu khắp các nơi ở nước ta, là món rau ăn phổ biến trong mùa đông - xuân.
Kết quả phân tích các thành phần hóa học trong 100g rau cải xoong (phần dùng để ăn được) có giá trị dinh dưỡng như sau: chiếm nước 93g, protein 1,7 - 2g, chất béo 0,2 - 0,3g, gluxit 3 - 4g, chất xơ 0,8 - 1g, vitamin A, B1, B2, C và nhiều chất khoáng khác. Đặc biệt, lượng iốt trong rau cải xoong rất cao 20 - 30 mg/100g rau cải xoong phần ăn được. Vitamin C cao (40 - 45mg/100g rau)...
Nhờ trong rau cải xoong chứa lượng vitamin C cao, lại có vitamin A, B1, B2 nên đã giúp bảo vệ sức khỏe, chống oxy hóa, chống độc, làm tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống hiện tượng lão hóa bệnh lý, giữ gìn nét tươi trẻ. Ngoài ra, nhiều yếu tố khoáng chất rất dễ hấp thụ như caxi, iốt vì chúng đều ở dạng liên kết hữu cơ. Nếu lượng caxi đầy đủ mỗi ngày cho cơ thể là 1.000mg thì sẽ giúp người ít mắc bệnh tim và góp phần chống lão hóa.
Còn iốt cần cho tuyến giáp để phòng chống bướu cổ và tăng khả năng tự vệ cho cơ thể, tăng sự trao đổi chất của tế bào, chống còi xương và bệnh béo phì, các bệnh ngoài da, bệnh xơ cứng động mạch ở người già. Song lượng iốt cần cho cơ thể rất nhỏ chỉ 0,1 - 0,5mg/ngày, nhưng thiếu lại sinh bệnh, như vậy mỗi ngày cần ăn rau cải xoong từ 9 - 10g là đủ lượng iốt trên.
Rau cải xoong giúp ta ăn ngon miệng lại tẩy độc, lợi tiểu, có nhiều chất xơ nên tác dụng tốt đối với dạ dày, có tác dụng thông gan mật và góp phần làm giảm bệnh ứ máu. Món ăn rau cải xoong nấu với cá tươi vừa ngon, bổ, mát, có tác dụng giải nhiệt, phòng nhiệt, lợi tiểu, cầm máu, chữa bệnh phổi. Chẳng những là rau ngon, bổ, cải xoong còn được xem như dược, hiện chữa được nhiều bệnh như dưới đây:
Chữa ho lao:
150g cải xoong, 150g phổi lợn đem nấu canh ăn vào buổi sáng. Buổi chiều trộn một nắm rau cải xoong sống với 100g thịt bò sào tái với dấm. Ăn liên tục trong nhiều ngày.
Món ăn này giúp bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng, mau lành bệnh.
Chữa sỏi mật, sỏi thận:
Lấy cải xoong phơi chỗ thoáng mát cho đến khi khô. Mỗi ngày dùng 50g cho vào ấm đất, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, chia hai lần uống trong ngày (sáng, chiều) và uống khi còn nóng.
Chữa bệnh nhiệt:
Môi lưỡi bị lở loét, chảy máu chân răng thì lấy rau cải xoong nấu với cà rốt lấy nước uống sẽ khỏi.
Chữa bệnh đái đường:
100g cải xoong, 100g cần tây, 100g củ cải, 100g cà rốt, 100g cải bắp ép lấy nước hoặc giã nát, vắt lấy nước uống. Đây là bài thuốc dân truyền chữa bệnh đái đường rất hiệu quả.
Chữa bí tiểu:
Lấy rau cải xoong rửa sạch, trộn với dầu vừng (dầu mè) và dấm.
Chữa viêm phế quản mạn tính:
150g cải xoong, 50g lá tía tô, 5g gừng tươi. Cho cả 3 thứ vào ấm đất, đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, chia 3 lần, uống trong ngày. Mỗi lần uống cách nhau từ 3 - 4 tiếng. Khi uống phải hâm nóng.
Ngăn chặn ung thư:
Nhiều thử nghiệm cho thấy các hoạt chất được chiết xuất từ lá cải xoong thực sự ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Các nghiên cứu khẳng định isothiocyanate - tên một nhóm hợp chất trong cải xoong - có khả năng ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

Mướp đắng - Chữa tiểu đường, huyết áp cao



Ở nước ta, mọi người thường xắt lát quả mướp đắng chưa già, ngâm vào nước muối để giảm chất đắng, đem nấu canh hay làm món xào hoặc nhồi thịt xay vào ruột quả mướp rồi đem nấu canh.
Phân tích thành phần dinh dưỡng cho thấy, mướp đắng có: Protein 0,9%; lipit 0,1%; hydratcacbon 0,2% và nhiều vitamin, khoáng chất: vitamin A (mg) 0,04; B1 0,05%; B2 0,03%; Canxi 22%; Kali 26%; Magiê 16%; Sắt 0,9%.
Theo Đông y, mướp đắng tính hàn, vị đắng, không độc, nếu được dùng thường xuyên sẽ giúp giảm các bệnh ngoài da, làm cho da dẻ mịn màng. Theo y học hiện đại, mướp đắng có tác dụng diệt vi khuẩn và virus, chống lại các tế bào ung thư, hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa bằng tia xạ. Ngoài ra, mướp đắng còn có tác dụng dược lý sau:
- Chống các gốc tự do là nguyên nhân gây lão hoá và phát sinh các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tổn thương thần kinh, viêm đường tiết niệu, tiểu đường…
- Tăng oxy hoá glucose, ngăn chặn sự hấp thu glucose vào tế bào. Ức chế hoạt tính các men tổng hợp glucose.
- Có tác dụng sinh học giống insulin, giúp cơ thể tăng tiết insulin, rất tốt đối với bệnh nhân tiểu đường dạng 2.
- Chữa ho, mụn trứng cá (uống trong và bôi ngoài) và rôm sảy (uống trong và bôi ngoài, khi khô thì tắm).
Cách chế: Mướp đắng tươi 200g cắt nhỏ, sắc 3 lần với nước, mỗi lần lấy 1 bát, tất cả cô lại còn 1 bát, chia làm 3 – 4 lần uống (hoặc cả uống trong, bôi ngoài) trong ngày. Trẻ em dùng nửa liều trên.
Chữa tiểu đường dạng 2 mới mắc (khi chưa phải dùng tân dược), phối hợp với các loại sulfamid chữa tiểu đường dạng 2 để tăng tác dụng giảm liều và giảm tác dụng phụ của thuốc. Ngoài ra, nước sắc quả mướp đắng tươi cũng giúp phòng chống các bệnh tim mạch, thần kinh, ung thư, lão hoá, giảm tác hại của tia xạ với người bệnh.
Cách chế: Quả mướp đắng tươi rửa sạch, để ráo nước, cắt nhỏ (bỏ hạt) cho vào máy xay sinh tố xay nhỏ, sau đó cho vào túi vải sạch đã tiệt trùng bằng cách luộc sôi 15 phút vắt lấy nước, đun sôi 15 phút (nước 1). Bã cho thêm nước (1kg quả tươi ban đầu thì cho 500ml nước) đun sôi, để nhỏ lửa trong 15 phút, lấy ra để nguội, vắt lấy nước (nước 2). Bã lại cho thêm nước (1kg quả tươi ban đầu thì cho 300ml nước) đun sôi để nhỏ lửa trong 15 phút, lấy ra để nguội, vắt lấy nước (nước 3). Bỏ bã, gộp cả nước 1, nước 3 đun sôi trong 15 phút.
Chia liều: Nếu ban đầu có 1kg quả tươi thì chia nước vắt thành 10 liều, mỗi ngày uống 1 liều ngay sau bữa ăn. Phần còn lại bảo quản trong tủ lạnh để dùng dần.
* Chữa say nắng: Dùng mướp đắng 60g, cuống lá sen 30g, đậu ván trắng 30g, sắc nước uống trong ngày để chữa say nắng phát sốt. Nếu trường hợp bị nhẹ chỉ cần dùng 15g mướp đắng đã bỏ lõi phơi khô, sắc nước uống.
* Chữa đau răng: Dùng mướp đắng 1 quả, đường kính trắng 60g. Mướp đắng rửa sạch, bỏ lõi, giã nhuyễn cho vào đường trộn đều. Sau 2 giờ, vắt lấy nước cốt uống. Bài thuốc này chữa đau răng do nắng nóng hay ăn nhiều chất cay nóng hiệu quả.
* Chữa tăng huyết áp: Dùng mướp đắng tươi 60 – 80g, rau cần 200g, sắc nước uống trong ngày, liên tục 7 – 10 ngày (một liệu trình) chữa tăng huyết áp.
- Mướp đắng 150g thái nhỏ, gạo tẻ 30 – 50g. Cho gạo vào nồi đổ nước, đun sôi một lúc rồi cho mướp đắng vào nấu thành cháo. Mỗi ngày ăn 2 lần khi cháo còn ấm. Bài thuốc này chữa đái tháo đường hiệu quả.
- Mướp đắng tươi 60 – 80g (hoặc 30 – 40g khô), thái nhỏ, hãm nước sôi, uống thay trà trong ngày. Cũng có thể dùng mướp đắng phơi hoặc sấy khô, tán thành bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g bằng nước đun sôi. Bài thuốc này chữa đái tháo đường hiệu quả.
Lưu ý: Mướp đắng có tính lạnh nên những người tỳ vị hư hàn ăn dễ bị đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa vì vậy không nên dùng nhiều. Khi dùng mướp đắng (ở mọi dạng chế biến), không được dùng huyền sâm hoặc các chế phẩm có huyền sâm.

Dưa gang: Dưỡng huyết, an thai


Dưa gang được trồng phổ biến ở Việt Nam tên khoa học là Cucumis melo L. thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae). Quả dưa gang có hình trụ với nhiều sọc dọc, màu xanh lục hoặc màu vàng, thịt trái khi còn sống thì cứng giòn, khi chín thì mềm bở có vị nhạt. Quả dưa non làm rau ăn sống, làm gỏi, nấu canh, muối, ngâm giấm, ép lấy nước; dưa chín ăn với đường đá rất mát.
Theo Đông y, dưa gang còn gọi là hoàng qua, sinh qua, bạch qua, việt qua, tiêu qua… Dưa gang có vị ngọt, tính mát, có tác dụng giải khát, thông khí, lợi tiểu. Trong những ngày hè, ăn dưa có thể phòng ngừa được cảm nắng, lợi tiểu.
Mùa hè nóng bức, người dân thường ăn dưa gang với đường cát, đường bát để thanh nhiệt. Dưa gang còn có tác dụng giải độc rượu: Dưa gang xay lấy nước uống; trị cảm nắng: Uống nước dưa gang hòa với bột sắn dây… Sau đây là một số tác dụng của dưa gang:
-Giúp phụ nữ dưỡng huyết, an thai: 10 cuống dưa gang, 300g bột gạo, đặt cuống dưa gang lên miếng ngói nung cháy thành than, nghiền với bột gạo sao thơm, hai thứ trộn đều với nhau, uống mỗi ngày 30g với nước ấm.
-Lợi tiểu: Dưa gang ăn sống, làm gỏi, sinh tố hoặc nấu canh.
-Rộp miệng: Dưa gang đốt thành tro nghiền bột, dùng để rắc đắp ngoài.
-Nóng bức, khó chịu, miệng khát: Dưa gang (1 quả), nấu chín làm canh, ăn bã, uống nước.
Ở nông thôn, các bà mẹ quê thường chọn dưa gang làm gỏi ăn trong mùa hè rất hiền và mát, được chế biến như sau:
Chọn những trái dưa thật tươi, không tì vết, vỏ còn xanh, cắt đôi theo chiều dọc bỏ hạt, thái mỏng đem ngâm với muối chừng năm phút cho lát dưa mềm, đem xả sơ qua với nước lạnh rồi vắt dưa ráo nước. Sau đó, phi dầu ăn với tỏi cho thật thơm sau đó cho tôm lột hoặc tép khô (đã làm sạch) vào xào sơ với gia vị cho thấm như nước mắm, tiêu, bột ngọt, ít đường cát… Sau đó nhắc xuống để hơi nguội rồi cho dưa đã vắt nước vào trộn đều với đậu phộng ( lạc) rang giã dập, rau thơm như ngò, rau răm, hổ điếc. Món gỏi này ăn với bánh tráng nướng vàng ruộm rất thơm ngon, mát lành.
Người dân thành phố thường chọn mua những quả dưa già, to tròn, cầm nặng tay (cơm dầy), vỏ quả dưa nứt nhiều (dưa sáp, thịt dẻo ngon) có mùi thơm thoang thoảng. Về nhà, gọt vỏ, bỏ hạt, xắt dưa thành từng viên cỡ con cờ, cho vào dĩa. Cho đường cát, sữa đặc và đá bào vào sẽ có món dưa đá thơm ngon, có lợi cho sức khỏe trong mùa hè hoặc có thể làm món “sinh tố dưa gang” bằng cách gọt vỏ dưa gang, bỏ hạt, xắt từng miếng phù hợp rồi cho vào máy ép sinh tố để ép lấy dung dịch. Thêm đường hoặc sữa đặc hay mật ong vào ly. Cuối cùng cho đá bào vào và thưởng thức sẽ “nghe” cái nắng nóng, mệt mỏi trong những trưa hè tan biến theo những hớp “nước dưa” mát lạnh thấm dần vào thực quản
Tuy nhiên ăn nhiều dưa gang sống dễ sinh đau bụng, người mới khỏi bệnh và tì vị hư hàn nên kiêng ăn.

Tuesday, June 26, 2012

Vị thuốc từ cây húng chanh


Húng chanh còn gọi là tần dày lá, rau thơm lùn, rau thơm lông, rau tần, dương tử tô và có tên khoa học là  Plectranthus amboinicus.
Húng chanh là loại cây thân thảo, sống lâu năm, cao 20-50 cm. Lá mọc đối, dày cứng, giòn, mọng nước, mép khía răng tròn. Toàn cây có lông rất nhỏ và thơm như mùi chanh nên được gọi là húng chanh. Húng chanh là cây thân thảo, sống lâu năm. Lá và ngọn non ngoài việc dùng làm rau gia vị, còn được sử dụng như một vị thuốc thu hái quanh năm.
Rau húng chanh có vị chua the, mùi thơm, hăng hăng, tính ấm, đi vào phế, thường dùng giải cảm rất hay, và dùng sát khuẩn, tiêu đàm, khử độc. Lá húng chanh có giá trị trị liệu cao, được sử dụng dưới nhiều cách khác nhau như giã lấy nước uống thô với chút muối để xoa dịu các cơn ho kéo dài, trừ giun sán. Lá húng chanh tươi giã và cho vào băng gạc để đắp có thể ngăn ngừa nhiễm trùng cho vết thương ngoài da. Lá húng chanh ngâm với rượu dùng để xoa khi đau bụng... Dưới đây là một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian từ cây húng chanh:
- Rắn cắn, bò cạp và ong đốt: Lá húng chanh tươi giã đắp
- Chữa chảy máu cam: Húng chanh 20g, lá trắc bá sao đen 15g, hoa hòe sao đen 10g, cam thảo đất 15g. Sắc uống ngày một thang. Lá húng chanh đem vò nát, nhét vào bên mũi chảy máu.
- Chữa dị ứng nổi mề đay: Lá húng chanh nhai nuốt nước, bã thì đắp hay xoa xát.
- Chữa đau bụng: Lá húng chanh non rửa sạch, 1-2 lá nhai với một ít muối, ngậm nuốt dần dần.
- Chữa cảm cúm, ho, viêm họng, khản tiếng: Lá húng chanh non 5-10g giã nát vắt lấy nước cốt nóng. Hoặc đem giã nhỏ một nắm lá (15-20g), thêm nước, vắt lấy nước uống làm 2 lần trong ngày. Đối với trẻ em, thêm ít đường, đem hấp cơm cho uống làm 2-3 lần.
- Chữa sốt cao, không ra mồ hôi: Húng chanh 20g, lá tía tô 15g, gừng tươi 5g cắt lát mỏng, cam thảo đất 15g. Sắc uống nóng cho ra mồ hôi.
- Chữa hôi miệng: Húng chanh khô một nắm đem sắc lấy nước, thường xuyên ngậm và súc miệng rồi nhổ ra. Cần làm 5-7 lần.

Mướp hương chữa tắc sữa


Mướp hương có tên khoa học là Luffa eylindrica (L.) M.J.Roem, thuộc họ Bí (Cucurbitaceae) được trồng ở khắp nơi để lấy quả làm thức ăn và các bộ phận khác dùng để chữa bệnh. Gọi là mướp hương là do quả mướp thoang thoảng hương nếp như mùi lá dứa thơm. 
Theo đông y, mướp hương vị ngọt, tính bình; có tác dụng làm điều kinh (phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều nên ăn mướp xào với tôm cả vỏ), ngừng bạch đới, bình can ngưng phong, làm mát, nhuận da, thông đại tiểu tiện; thường dùng để chữa các chứng bệnh như: Sốt cao phiền khát, viêm họng, viêm phế quản, trĩ, bạch đới, viêm đường tiết niệu, sản phụ sữa không thông, táo bón (trái mướp nấu canh ăn).
Quả mướp nấu canh ăn hằng ngày có tác dụng nhuận tràng và làm dịu đau (chính là do chất nhày chứa với hàm lượng cao trong quả). Quả mướp non ninh với chân giò hoặc móng giò lợn là thuốc tăng tiết sữa và làm máu lưu thông; xơ mướp được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là ty qua lạc, có vị ngọt dịu, tính bình, có tác dụng cầm máu, thông kinh lạc, chống co thắt, thúc sởi, lợi tiểu. Thân cây mướp: Lấy từ mặt đất trở lên độ 1m, chặt nhỏ, đốt tồn tính, tán mịn, uống mỗi lần 10g với ít rượu chữa viêm xoang mũi, chảy nước mũi và có mùi hôi.
 Lá mướp (dùng lá bánh tẻ), thu hái quanh năm, để tươi hoặc phơi khô. Dược liệu có vị đắng, chua, tính hơi lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, chống viêm, giảm ho, giải độc, tiêu thũng…
Dưới đây là tác dụng của mướp
- Viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm bể thận: 200g mướp, nấu nhừ cho ít mật ong mà ăn, ngày ăn 2 lần.
- Chữa viêm họng: Lá mướp hương rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, gạn uống làm một lần. Chữa ho, hen kéo dài: Lá mướp hương 15g nấu nước uống hoặc chế biến dưới dạng cao lỏng 1/1, mỗi lần uống 0,5ml.
- Chữa phù thũng: Lá mướp hương 15g phối hợp với cây cứt lợn 10g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Dùng 5 – 7 ngày.
- Chữa viêm xoang mũi, chảy nước mũi và có mùi hôi: Thân cây mướp: Lấy từ mặt đất trở lên độ 1m, chặt nhỏ, đốt tồn tính, tán mịn, uống mỗi lần 10g với ít rượu.
- Chữa đau lưng, đau hông do thấp nhiệt: Thân cây mướp 30g, phối hợp với xa tiền tử 30g, hổ trượng 15g, hoàng bá 10g, sắc nước uống ngày 1 thang.
- Chữa sốt cao, đau đầu: Hoa mướp 20g, hạt đậu xanh 100g. Đậu xanh để cả vỏ, ninh nhừ rồi lấy khoảng 400ml nước cốt. Vớt xác đậu xanh ra, cho hoa mướp đã thái nhỏ vào, đun sôi trong 5 – 10 phút. Để nguội. Chắt lấy nước uống làm 2 – 3 lần trong ngày.
- Chữa băng huyết: Đài của quả mướp hương 1 – 2 cái phối hợp với huyết dụ 2 – 3 lá, rễ cỏ tranh 20g, rễ cỏ giày 20g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
- Chữa kinh nguyệt không thông, không đều: Dùng 1 trái mướp khô đốt tồn tính, tán bột, uống ngày 10g vào lúc sáng sớm (nếu được thì uống với 1 chút rượu).
- Chữa trĩ ra máu, rong kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu: Xơ mướp đốt tồn tính, tán bột, uống mỗi ngày 4 – 8g chia làm 2 lần chiêu với nước ấm.
- Chữa tắc tia sữa: Xơ mướp 1 cái, gai bồ kết 10 cái, hành tươi hoặc phơi khô 1 củ. Tất cả băm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 2 – 3 ngày. Kết hợp xoa nắn vú cho thông tia sữa.
- Chữa hen: Xơ mướp 20g băm nhỏ, sao; hạt đay quả dài 12g, giã dập, sao. Trộn đều, sắc uống lúc nóng. Ngày hai lần. Dùng 2 – 3 ngày.
- Chữa bế kinh: Xơ mướp đốt tồn tính, tán nhỏ, trộn với tiết chim bồ câu trắng làm thành bánh, rồi phơi khô, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu vào lúc đói (Nam dược thần hiệu).
- Chữa sởi (làm sởi mọc nhanh và mọc đều, hạn chế các biến chứng): Xơ mướp 20g, kinh giới 12g, bạch chỉ 12g, kim ngân 12g, cỏ mần trầu 8g, cam thảo nam 4g. Tất cả thái nhỏ, sao vàng, sắc uống làm hai lần trong ngày.
- Chữa bệnh zonal: Dùng lá non vò nát, chấm nhẹ vào vùng mẩn nốt, nếu bị bên trong cơ thể thì dùng 10 - 15g xơ mướp sắc uống hằng ngày.
- Chữa thông sữa, lợi sữa: Dùng 1 trái mướp tươi, 10g muối ăn, nấu sôi với 1 lít nước, cho sản phụ uống đến khi sữa ra nhiều. Hoặc nấu mướp với chân giò heo để ăn.

Diếp cá chữa trĩ


Dấp cá còn gọi là diếp cá, trấp cá, gọi theo tiếng Hán là ngư tinh thảo. Đây là loại cây mọc hoang được trồng để làm rau gia vị. Dấp cá được Đông y dùng để chữa nhiều bệnh.
Diếp cá là dạng cây cỏ, cao 20-40 cm. Thân màu lục hoặc đỏ tía. Lá mọc so le, hình tim, có bẹ, khi vò có mùi tanh như cá. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc vàng nhạt, họp thành bông có 4 lá bắc màu trắng trông như một chiếc hoa riêng lẻ. Hạt hình trái xoan nhẵn.
Cây mọc trên đất ẩm trong thung lũng, ven suối, bờ mương. Phân bố khắp các tỉnh miền núi và có nhiều ở các vườn nhà vùng đồng bằng nông thôn. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, bỏ rễ. Thu hái quanh năm và thường dùng tươi.
Theo Đông y, rau diếp cá vị cay tanh hôi (có mùi tanh như cá), tính ấm mát, hơi có độc, đi vào kinh phế. Có tác dụng chữa trĩ, đinh nhọt, chữa chốc đầu, ghẻ lở, đau răng, sởi, đau mắt đỏ, bí tiểu tiện, phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thể phối hợp với một số vị thuốc nam khác chữa sốt xuất huyết. Thường dùng dưới dạng sắc hoặc ép nước cốt hoặc chế dầu dấp cá để nhỏ mắt. Liều dùng thông thường loại cây khô từ 6-12 g, hoặc cây tươi (dùng lá) từ 20-40 g.
Một số bài thuốc có rau diếp cá
- Chữa sốt xuất huyết:  
Rau diếp cá, lá bồ ngót, lá cỏ mực, mỗi thứ 100 g, sắc đặc, uống làm nhiều lần trong ngày.
- Chữa bệnh trĩ:
Rau diếp cá dùng ăn sống hằng ngày, kết hợp lấy diếp cá giã nát và rịt vào nơi bị trĩ, băng lại mỗi ngày 1-2 lần rất tốt.
Nếu trĩ đau nhức thì lấy lá diếp cá nấu nước sôi đổ ra chậu để xông hậu môn, đến lúc nước còn ấm thì ngâm và rửa sạch vùng hậu môn.
- Chữa mụn nhọt sưng đỏ:
Lấy vài lá diếp cá rửa sạch, giã nát, khi đi ngủ rịt vào mụn nhọt băng lại, sáng dậy bỏ ra, làm vài lần sẽ mau khỏi.
- Chữa vú sưng tắc sữa:
Dùng 20 g cây diếp cá khô, táo đỏ 10 quả. Đổ vào 600 ml nước, sắc còn lại 200 ml, chia đều 3 lần uống trong ngày.
- Chữa đau mắt đỏ:
Rau diếp cá 10 lá, rửa sạch giã nhuyễn, dùng vải mỏng hoặc giấy xốp gói đắp lên mắt sẽ khỏi.
- Chữa viêm tuyến vú:
Lá diếp cá 30 g, lá cải trời 30 g (cải trời tức hạ khô thảo nam), giã nát, thêm chút nước sôi để nguội vắt lấy nước cốt uống, còn bã chưng nóng với giấm rịt vào nơi sưng đau vài lần là khỏi.
- Chữa tiểu buốt, dắt:
Rau diếp cá, rau má, lá  mã đề mỗi thứ 50 g rửa sạch, vò nát, lọc lấy nước trong uống nhiều ngày sẽ khỏi. 
- Chữa viêm đường hô hấp do sởi:
Rau diếp cá, rau dền đỏ, lá đậu săng, cam thảo đất, mỗi thứ 15-20 g. Đổ 3 bát sắc còn 1 bát, chia 3 lần uống trong ngày.
Rau diếp cá là vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh có hiệu quả cũng là loại rau ăn gần gũi với mọi gia đình.

Wednesday, April 11, 2012

Bài thuốc từ rau càng cua

Rau càng cua là loại rau hoang dại, mọc nhiều nơi, ăn sống hơi chua giòn ngon, rất có giá trị về dinh dưỡng. Theo Đông y, rau có tác dụng bổ âm, dưỡng huyết, thanh nhiệt, giải độc, thông ứ, chỉ thống, lợi tiểu tiện.

Rau càng cua

Đặc điểm của rau càng cua:
Càng cua tên khoa họcPeperomia peliucida, ưa mọc nơi đất ẩm, mương rạch, vách tường khắp nơi ở nước ta, cao khoảng 20 – 40cm. Càng cua thường được người dân hái làm rau tươi bóp giấm, đặc biệt món rau ăn sống với ếch chiên, thịt bò xào tái, lươn om, ăn ngon lạ miệng, bổ mát… Trong 100g rau càng cua chứa 92% nước, phosphor 34mg, kali 277mg, canxi 224mg, magiê 62mg, sắt 3,2mg carotenoid 4.166 UI, vitamin C 5,2mg, cung cấp cho cơ thể 24 calori.
Rau càng cua chứa nhiều chất vitamin C, carotenoid, là chất có vai trò tăng khả năng miễn dịch, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch, bệnh về mắt, tăng cường sức mạnh cơ bắp, mau lành vết thương, giải nhiệt độc cơ thể… Đây là rau chứa nhiều chất phosphor, canxi là chất có vai trò quan trọng giúp trẻ em phát triển bộ xương, ngăn ngừa còi xương và chữa loãng xương người lớn. Rau chứa nhiều chất sắt, ăn rất tốt cho người thiếu máu do thiếu sắt. Rau còn chứa nhiều kali là chất rất cần cho sự hoạt động bình thường của cơ tim, sử dụng rất tốt cho bệnh tim mạch và huyết áp. Ngoài ra, càng cua giàu chất magiê cũng là chất có vai trò chữa bệnh đái tháo đường, táo bón, cao huyết áp, và loãng xương. Càng cua là loại rau ít năng lượng, rất thích hợp cho người thừa cân nóng nhiệt.
Theo Đông y, rau càng cua có tác dụng bổ âm huyết, thanh nhiệt, giải độc, thông ứ, chỉ thống, lợi tiểu tiện, là món ăn bài thuốc rất thích hợp chữa trị chứng phế nhiệt miệng khô khát, chứng huyết nhiệt sinh mụn nhọt lở ngứa, chứng vị nhiệt sinh táo bón, chứng thận hư âm hư, bàng quang nhiệt tiểu buốt gắt, và chữa chứng đau mỏi cơ khớp do phong nhiệt.

Một số món ăn bài thuốc dùng rau càng cua
- Chữa phế nhiệt, viêm họng khô cổ khan tiếng: rau càng cua rửa sạch nhai ngậm, hoặc xay nước uống ngày 50 – 100g.
- Chữa chứng tiêu khát (đái tháo đường) có kèm chứng miệng khô khát, táo bón: rau càng cua rửa sạch 100g bóp giấm, chanh, thịt ếch chiên bột 100g ăn tuần vài lần.
- Chữa thiếu máu: rau càng cua 100g rửa sạch bóp giấm, thịt bò, cho gia vị vừa đủ xào chín tới trộn đều ăn vài lần.
- Chữa tiểu gắt, tiểu khó: rau càng cua ăn sống hoặc nấu nước uống ngày 150 – 200g.
- Chữa đau lưng cơ co rút (nhiệt độc nhập kinh thận): rau càng cua sắc uống mỗi ngày 50 – 100g.
- Chữa nhiễm trùng đầu ngón tay (chín mé): rau càng cua 100 – 150g sắc uống trong, bã đắp ngoài.
- Chữa ngoài da khô sần, mụn nhọt lở ngứa, vết thương lâu lành: rau càng cua ăn sống, hoặc xay nước uống, giã đắp ngoài.
Có người còn cho rằng, ăn rau càng cua làm người mát, bớt táo bón, đi tiêu dễ dàng, người khỏe, tim bớt hồi hộp, có thể vì rau này có tính nhuận tràng và giàu vitamin C, kali.
Rau càng cua là rau ngon giòn, bổ mát, lạ miệng, là nguồn bổ sung nhiều vitamin vi lượng cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên, rau có tính hàn, người tỳ vị hư hàn đang tiêu chảy không nên dùng

CÀ CHUA

Cà chua là loại rau ăn quả, có nguồn gốc từ Nam Mỹ, với tên khoa học là Lycopestium esculentum thuộc họ cà (solanaceae). Quả chứa nhiều vitamine C nên có vị chua...

Cà chua -- "vitamin A thiên nhiên"




Khi cà chua chín có màu đỏ tươi rất đẹp nên được sử dụng trang trí trong các món ăn. Màu đỏ của cà chua là biểu hiện sự có mặt của vitamine A thiên nhiên, chất beta carotene tiền vitamine A. Trung bình 100g cà chua chín tươi đáp ứng được 13% nhu cầu mỗi ngày về vitamine A, vitamine B6, vitamine C, ngoài ra còn vitamine B1, B2. Cà chua cung cấp ít năng lượng nên là thực phẩm thích hợp cho người cần giảm béo. Các yếu tố vi lượng có trong cà chua như: canxi, sắt, kali, phosphore, magiê, lưu huỳnh, nicken, cobalt, iod, cùng các acide hữu cơ dưới dạng muối citrate, malat. Tùy thuộc vào môi trường trồng trọt mà cà chua còn có đồng, molibden... Chính nhờ vậy mà cà chua được xem là loại quả giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Sắc tố lycopen có ở cà chua cùng beta carotene được coi là chất chống oxy hóa mạnh, ngăn chặn tế bào ung thư, lại còn chống các cục máu đông trong thành mạch máu. Như vậy, chất lycopen và beta carotene trong cà chua sẽ góp phần làm chậm quá trình lão hóa và phòng ngừa ung thư.

Y học hiện đại cho rằng, có thể dùng cà chua để chữa rối loạn chuyển hóa muối, viêm gan, xơ gan, béo phì, làm chậm quá trình lão hóa và phòng chống ung thư. Đó là nhờ sự có mặt của vitamine A thiên nhiên đã ngăn ngừa khả năng tích lũy cholesterol trên thành mạch nên đã tránh được tình trạng vỡ mạch máu não.

Những cách chữa bệnh từ cà chua

Đông y cho rằng cà chua có tính bình, vị chua hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tăng tân dịch, chống khát nước, giúp thông tiểu tiện và tiêu hóa tốt. Dưới đây là những cách trị bệnh từ cà chua.

- Chữa sốt cao kèm theo khát nước: cà chua 200g thái lát, sắc nước uống thay trà trong ngày, uống lạnh hay nóng đều được. Hoặc dùng nước ép cà chua, nước ép dưa hấu mỗi thứ 200ml, trộn đều, chia 2 -- 3 lần uống trong ngày.

- Chữa viêm gan mạn tính: cà chua 250mg rửa sạch, thái miếng, thịt bò 100g thái mỏng, xào ăn hàng ngày. Món ăn này có tác dụng hỗ trợ tốt trong điều trị viêm gan mạn tính, giúp cơ thể nhanh hồi phục.

- Chữa tăng huyết áp, xuất huyết đáy mắt: vào sáng sớm (khi chưa ăn uống gì), lấy 1 -- 2 quả cà chua, rửa sạch bằng nước sôi, thái thành miếng nhỏ, thêm chút đường cho đủ ngọt rồi ăn sống. Mỗi liệu trình kéo dài 15 ngày, nghỉ 3 ngày rồi tiếp tục liệu trình khác.

- Chữa phồng tĩnh mạch do bị nghẽn: cà chua sống thái lát mỏng hoặc nghiền nát, đắp lên chỗ mạch máu bị phồng mỗi ngày 1 lần, khi bắt đầu thấy rát thì bỏ thuốc ra. Thuốc có tác dụng thông huyết, chống đau nhức.

- Chữa mụn nhọt lở loét: lấy ngọn cây cà chua rửa sạch, giã nát, thêm vài hạt muối, đắp lên nơi tổn thương rồi băng lại. Mỗi ngày làm vài lần cho đến khi khỏi. Hoặc: nấu cà chua với dầu hay mỡ cho đến khi bốc hết hơi nước, sau đó dùng như một loại thuốc mỡ để bôi lên những nơi mụn nhọt, lở loét.

- Chữa viêm loét dạ dày: nước ép cà chua và nước ép khoai tây mỗi thứ 150ml, trộn đều, uống vào buổi sáng và tối hàng ngày.

- Chữa bí đại tiện, thiếu máu: cà chua sống gọt bỏ vỏ, thái thành miếng nhỏ, trộn với mật ong, ăn ngày 2 -- 3 lần, mỗi lần 1 -- 2 quả.

- Chữa chảy máu chân răng: ăn cà chua sống ngày 3 -- 4 lần, mỗi lần 1 -- 2 quả, ăn trong 2 tuần sẽ có kết quả.

- Chữa bỏng lửa: tách lấy vỏ cà chua có dính thịt quả đắp lên chỗ bỏng, thỉnh thoảng lại thay. Thuốc có tác dụng chống đau rát và kích thích da chóng hồi phục.

- Chữa miệng bị lở loét: có thể ngậm nước ép cà chua ngày vài lần, mỗi lần vài phút. Còn nếu thấy miệng khô lưỡi rát, hãy lấy nước ép cà chua 150ml và nước mía ép 20ml trộn đều để uống, ngày 2 lần

KHOAI LANG


1. Chữa cảm sốt mùa hè

- Thời tiết mùa hè dễ gây sốt vì cảm thử, không ra được mồ hôi. Với người sức khỏe tốt, có thể nấu khoai lang trắng với cải bẹ xanh ăn thay cơm để giúp ra mồ hôi, hạ sốt, giải thử.

- Khoai lang trắng khô một nắm, nghệ một củ, giấm 1/2 chén con, sắc uống nóng.

- Khoai lang trắng khô 16g, gừng 16g, sắc uống hoặc nấu cháo.

- Khoai lang trắng tươi luộc chín để xông, rồi ăn khoai nóng, uống nước luộc khoai nóng cho ra mồ hôi.

- Thanh nhiệt giải độc: khoai lang 1 củ (400g), gạo 200g, đậu xanh 1/2 bát cơm, mã thầy 4 củ, củ cải 1 củ, tỏi 3 nhánh, thịt gà 150g, tôm nõn 70g, gia vị. Tất cả giã nát hoặc thái nhỏ nấu nhừ, riêng đậu xanh và mã thầy cho vào sau rồi nấu nhừ tiếp.

2. Chữa táo bón


- Ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng, ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ nghiền cùng khoai thành khối. Có thể uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch).

- Nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế.

- Dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước cất này vào buổi sáng.

- Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ).

- Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

3. Phòng chống béo phì

- Ăn khoai và rau lang luộc.

- Ăn chế độ 1/2 gạo, 1/2 khoai riêng rẽ, hoặc độn với nhau nấu cơm, cháo, bánh...

4. Trị chứng biếng ăn ở trẻ: cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

5. Chữa cam tích trẻ em: lá khoai lang non 100g, màng mề gà 2g. Sắc uống hoặc quấy với bột sữa.

6. Quáng gà: lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

7. Thiếu sữa: lá khoai lang tươi non 250g, thịt lợn 200g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.

8. Viêm tuyến vú: Khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.

9. Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30g, mai rùa 30g, sắc kỹ lấy nước uống.

10. Thận dương hư đi tiểu nhiều lần: Hầm thịt chó với khoai lang, cho thêm chút rượu và gia vị.

11. Chữa viêm dạ dày thiểu đoan: Lấy nước cốt khoai lang sắc uống ngày 3 lần. Mỗi lần một chén, uống liền 3 tuần, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp.




Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc

12. Chữa ngộ độc sắn: Khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.
13. Say tàu xe: Củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

14. Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.

15. Chữa vàng da: Nấu cháo đặc bằng khoai với gạo hoặc bột ngô.

16. Chữa tiểu đường: Lá khoai lang tươi 250g, bí đao 50g. Nấu canh ăn.

17. Chữa bệnh ngoài da

a. Đắp mụt nhọt: Khoai lang củ 40g, lá bồ công anh 40g, đường hoặc mật mía giã nhuyễn bọc vào vải, đắp lên mụn nhọt.

b. Hút mủ nhọt đã vỡ: Lá khoai lang non 50g, đậu xanh 12g, thêm chút muối, giã nhuyễn bọc vào vải đắp.

c. Ngứa lở âm nang: Sắc lá rau lang với ít muối, ngâm rửa hàng ngày vào buổi tối.

d. Bỏng: Lá khoai tươi rửa sạch, giã nhuyễn đắp lên vết bỏng.

18. Chế độ ăn có khoai lang trong điều trị ung thư:

a. Ung thư kết tràng, trực tràng: Cháo khoai lang - khoai lang tươi cả vỏ nấu cháo với gạo tẻ, đường.

b. Ung thư tử cung (bạch đới nhiều): viên hẹ, bột khoai lang 150g, khoai tây 200g, hạt hẹ 3g, thịt lợn nạc 50g, ít tôm nõn, táo đỏ, gia vị tùy ý. Hai loại khoai tạo vỏ, các thứ khác tạo nhân vo viên hấp chín (hạt hẹ rang thơm tán bột).