Showing posts with label CON VẬT. Show all posts
Showing posts with label CON VẬT. Show all posts

Wednesday, August 22, 2012

Cá trê, chữa suy giảm tình dục


Cá trê có tên khoa học là Clarias fuscus, là loài cá nước ngọt, có da trơn, nhẵn bóng. Đầu dẹt bằng, thân và đuôi dẹt bên, mang cá là một bộ phận đặc biệt gọi là hoa khế, làm cho cá có thể sống trên cạn được lâu. Miệng rộng, hướng ra phía trước, có răng sắc nhọn, có 4 đôi râu dài, mắt nhỏ. Cá trê thường có màu hơi vàng và nâu đen.
Theo Đông y, thịt cá trê có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ huyết, giảm đau, sinh tân, ích khí, thúc đẩy việc tạo sữa, lợi tiểu, tiêu thũng, bổ huyết. Thịt cá trê giúp tăng cường sinh lực, bổ khí huyết, chữa được đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, di tinh, giúp da dẽ hồng hào tươi nhuận, giúp cho tinh thần được thư thái. Đặc biệt, ăn thường xuyên cá trê khắc phục được chứng suy giảm tình dục, nhất là với người cao tuổi.
Sau đây là một số món ăn vị thuốc từ cá trê:
- Giúp hồi phục cơ thể: Ăn cá trê um (om), hầm hay nấu cháo.
- Bổ thận, kiện tỳ, dưỡng huyết, điều kinh, huyết hư, kinh ít: Cá trê 2 con (chừng 300 g), đậu đen 150 g. Cá trê bỏ mang, ruột, rửa sạch, chặt ra mỗi con 3-4 khúc, đậu đen rửa sạch. Hầm đậu đen với nước vừa đủ, cho cá trê vào nấu chín, cho gia vị và ăn lúc nóng.
- Giúp chống suy giảm tình dục: Cá trê 1-2 con làm sạch (giữ đầu) để ráo nước. Đậu đen 40 g ngâm nước 4-5 giờ rồi vớt ra để ráo. Phi dầu ăn với tỏi, gừng cho thơm, cho cá trê vào đảo vài lần, tiếp đến cho nước sôi để nguội và đậu đen vào nấu cho sôi, sau đó đun nhỏ lửa trong một giờ cho nhừ đậu và cá.
- Bổ huyết, nhuận phế, ích khí, đen tóc, làm da hồng hào tươi nhuận: Cá trê một con 300 g; mạch đông 16 g; sa sâm, tỳ bà diệp, đậu ván tươi mỗi thứ 12 g; hạnh nhân 8 g; đẳng sâm 20 g; gừng tươi 2 lát. Cá trê bỏ ruột làm sạch. Gừng giã nhuyễn ướp cá. Các vị thuốc bỏ vào túi vải, cho vào nồi với 1 lít nước, đậy kín, sắc độ 1 giờ rồi bỏ túi ra, thả cá vào nấu thêm cho chín, khoảng 1 giờ nữa, bắc ra ăn nóng.
-Mất ngủ, biếng ăn, chân tay tê nhức: Cá trê 400 g, đậu đen xanh lòng, đậu xanh nếp 200 g, trần bì một miếng bỏ xơ, ý dĩ 20 g, gạo nếp 20 g, đường, muối, hành tím, rau mùi, tiêu bột mỗi thứ một ít xay mịn nấu cháo nhừ nhuyễn.
-Ù tai, kém mắt: Cá trê vàng một con khoảng 300 g, rau giền xanh một nắm, rau giền tía một nắm. Nấu canh rau giền, cắt tiết cá trê vào, rồi bỏ cá trê vào lúc canh đang sôi mạnh. Cá chín bắc xuống, mở nắp chờ bớt nóng rồi ăn. Có thể nấu canh cá trê rau ngót như trên.
-Chảy máu cam: Làm sạch cá trê, bỏ hết lòng, để nguyên con ướp muối, xì dầu để sẵn. Nấu cơm cạn, để cá trên cơm hấp cho thật chín. Khi ăn tỉa lấy thịt trộn cơm ăn.
-Tiểu đường: Thường xuyên ăn canh cá trê với rau lủi (kim thất) sẽ giảm lượng đường trong máu.
-Giải nhiệt, giải cảm: Cá trê làm sạch, cắt khúc hoặc để cả con ướp nước riềng, nghệ, bột nêm, nước mắm cho thấm đều. Bắc chảo dầu ăn phi hành củ cho thơm, cho cá vào đảo qua rồi cho nước sôi ngập cá đậy vung và đun nhỏ lửa um cho cá chín nhừ ăn nóng với cơm.

Tuesday, July 17, 2012

Chuồn chuồn làm thuốc


rong y học cổ truyền, có hai loại chuồn chuồn được dùng để làm thuốc: Loại thứ nhất, còn gọi là Thanh đình, Thanh linh…, tên khoa học là Anax parthenope, vị ngọt, tính hơi lạnh, có công dụng bổ thận ích tinh, thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, chỉ khái định suyễn, thường được dùng để chữa liệt dương, di tinh, hầu họng sưng đau, hen suyễn, ho gà…
Trong Lĩnh Nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông viết :
“Thanh linh ta vẫn gọi chuồn chuồn
Vốn thực loài sâu sinh ở nước,
Không độc, hơi lạnh, mạnh chân dương.
Sáp tinh, ấm thuỷ, thông lợi được”
 Xích thanh linh (Crocothemis Servillia)
Một số cách dùng Thanh linh chữa bệnh cụ thể như sau:
Liệt dương, di tinh: chuồn chuồn 4 con, sấy khô, tán bột, chia uống 2 lần sáng chiều với nước ấm.
Ho gà: chuồn chuồn 2 - 3 con, sấy khô tán bột uống.
Hen suyễn do thận hư: chuồn chuồn 10 con, tắc kè 1 đôi, đường phèn 10g, tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g.
Hầu họng sưng đau: chuồn chuồn 4 con sấy khô tán bột uống với nước sắc 30g ô mai hoặc nước sắc 30g huyền sâm và 10g cát cánh.
Loại thứ hai, chuồn chuồn đỏ, còn gọi là Xích thanh linh, tên khoa học là Crocothemis servillia (Drury), vị ngọt, tính hơi lạnh, có công dụng bổ thận ích tinh, trấn thống bổ huyết, nhuận phế chỉ khái, được dùng để chữa đau đầu do thiếu máu, chóng mặt, ho gà, liệt dương, di tinh, hầu họng sưng đau…
 Thanh linh (Anax parthenope)
Ví dụ như:
Đau đầu, chóng mặt do thiếu máu: chuồn chuồn đỏ 3 con, sấy khô trên viên ngói nóng, tán bột, chia uống 3 lần trong ngày.
Ho gà: chuồn chuồn đỏ 5 con, xuyên bối mẫu 5g, hai thứ sấy khô tán bột, chia uống 2 lần trong nagỳ với một chút mật ong.
Liệt dương: chuồn chuồn đỏ 5 con, tiên linh tỳ 30g, toả dương 20g, ba kích 20g, nhục thung dung 15g, sơn thù 6g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
-Di niệu (đái dầm và đái són): chuồn chuồn đỏ 3 con, tang phiêu tiêu 10g, kim anh tử 15g, phúc bồn tử 10g, thỏ ty tử 10g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.       
  Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Ốc sên chữa bệnh


 Ốc sên (Achatina fulica), còn gọi là oa ngưu, là loài động vật thân mềm sống ở nhiều nơi trên đất nước ta. Ốc sên ăn thực vật, thường phá hoại cây cối, có thể nuôi làm thức ăn và làm thuốc. Về mặt thực phẩm, ốc sên là một loại thức ăn giàu đạm. Sau khi chế biến, thịt ốc sên ăn cũng giòn, ngon không kém ốc nhồi dưới các dạng xào, nấu, rán... Từ ốc sên người ta có thể chế đạm thủy phân bằng acid chlohydric hoặc xút, sẽ được một loại dịch có mùi vị thơm ngon như magi dùng làm nước chấm.
Người ta ước tính rằng, cứ 100g thịt ốc sên có chứa 11g đạm (cao hơn ốc vặn, ốc bươu và các loại nhuyễn thể khác như sò, trai, hến...), 6,2g đường, 150mg Ca, 71mg P, các acid amin chủ yếu là leucin, alanin, valin, acid glutamic, acid aspartic...
Về mặt y học, từ xa xưa ốc sên đã được đông y sử dụng làm thuốc với tính vị mặn hàn, có công dụng bổ dưỡng, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu tiêu thũng và chống co thắt.
Theo sách Namdược thần hiệu, để chữa mụn lở ở da mặt có thể dùng ốc sên giã nát, chế thêm một chút nước, phết lên giấy, để chừa một lỗ nhỏ ở giữa, đắp lên tổn thương. Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam ghi: “...từ năm 1991, nhân dân một số vùng ở Hải Phòng và Kiến An, Thái Bình, Hải Hưng bắt ốc sên về nấu ăn chữa hen suyễn, “còn dùng để chữa đau bụng kinh niên và thấp khớp”. Theo Trung dược đại từ điển, ốc sên có công dụng thanh nhiệt, tiêu thũng và giải độc, được dùng để chữa các chứng bệnh như phong nhiệt kinh giản (co giật do sốt cao), tiêu khát (tiểu đường), hầu tý (viêm amidal, viêm họng), quai bị, loa lịch (lao hạch), ung thũng (nhọt độc), trĩ sang (trĩ viêm loét), thoát giang (sa trực tràng), vết thương do côn trùng cắn đốt...
Các y thư cổ như Bản thảo cương mụcBiệt lục, Bản thảo tân biên, Dược tính luận, Bản thảo kinh sơ, Bản thảo đồ kinh, Thánh huệ phương, Thánh tễ tổng lục, Hải Thượng y tông tâm lĩnh... cũng đã ghi lại kinh nghiệm sử dụng ốc sên làm thuốc để chữa nhiều chứng bệnh khác nhau, trong đó có chứng thấp khớp do phong nhiệt và thấp nhiệt, chứng bệnh tương ứng với một số bệnh lý của y học hiện đại. Cách dùng cụ thể như sau:
Ốc sên bắt về đập bỏ vỏ, lấy phần lưỡi ốc, còn bỏ hết ruột, mổ đầu ốc, bỏ dạ dày, thực quản rồi dùng muối và phèn chua rửa sạch hết nhớt, nấu ăn như nấu ốc thường. Ăn liền trong 7 - 10 ngày. Có thể kéo dài hàng tháng.
- Ốc sên 2 con làm thịt, nướng vàng, thái nhỏ rồi nấu lấy nước đặc. Tiếp đó, dùng măng tre 50g rửa sạch, giã nát và ép lấy nước, đem hai thứ nước trộn lại với nhau, chia uống 2 lần trong ngày.
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học hiện đại nào chứng minh tác dụng chữa bệnh xương khớp cũng như làm tăng chất nhờn ở khớp của ốc sên. Tuy nhiên, với kinh nghiệm chữa bệnh của người xưa và với giá trị dinh dưỡng phong phú của ốc sên, có thể thấy loài nhuyễn thể này rất có ích cho những người mắc các chứng bệnh về xương khớp. Cũng cần nói thêm rằng, ở Pháp, người ta đã nuôi ốc sên trên quy mô công nghiệp được nhà nước giúp đỡ và chế biến thịt ốc sên thành một món ăn - vị thuốc được nhiều người ưa thích. Hàng năm, riêng nước này đã tiêu thụ từ 5 đến 6 vạn tấn ốc thịt, trong đó có khoảng 2 vạn tấn nhập của hơn 30 nước và 2 - 4 ngàn tấn thịt ốc được đóng hộp để xuât khẩu.  
  Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Con dơi - cải thiện chứng suy giảm tình dục



Già Làng Đinh Văn Bớt (65 tuổi) ở thôn Tà Lâu, xã Ba (Đông Giang – Quảng Nam) là chuyên gia săn bắt dơi cho biết:
“Ở Trường Sơn có hàng chục loại dơi to (ađhôôr) hay dơi nhỏ (briêng) khác nhau. Tuỳ theo tập quán vùng cao hoặc thấp mà đồng bào chế biến dơi thành những món ăn hấp dẫn khác nhau. Đây là món được coi là quý hiếm, vì thịt dơi trẻ con ăn chóng lớn, thông minh, nhanh nhẹn, người già ăn thịt dơi khoẻ mạnh, kéo dài tuổi thọ, còn tuổi trẻ được ăn thịt dơi thì đời sống tình dục vợ chồng tăng thêm gấp bội. Thịt dơi chế biến nhiều món ăn hấp dẫn khác như cháo dơi, dơi hầm trong ống lồ ô, dơi rán, dơi nướng “mọi”…, nhưng món cháo dơi nấu với đậu xanh là thơm ngon, bỗ dưỡng hơn cả...
Theo Đông y, con dơi còn có tên phu dực, biên bức, phi thử (chuột bay). Thịt dơi có vị ngọt, khí bình, không độc, làm lợi tiểu, tiêu phù, sáng mắt, trị băng huyết, bạch đới, nhọt lở, hen suyễn, sốt rét… Thịt dơi được sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho trẻ em bị ốm yếu, nhiều đàm (hen suyễn), cổ nổi nhiều hạch. Người ta còn sử dụng phân dơi làm thuốc có vị cay, tính bình, không độc. Dùng trị mắt mờ, trứng cá trên mặt, tràng nhạc, tim hồi hộp...
Dưới đây là các bài thuốc trị bệnh từ con dơi:
- Trị các bệnh phụ khoa như thiếu máu sau sinh, bế kinh, bạch đới, tử cung lạnh không sinh đẻ, suy nhược mệt mỏi, phong tê… Dùng thịt dơi chưng với các vị hoài sơn, kỷ tử (ăn nóng).
- Làm sáng mắt: Thịt dơi xào cà rốt hoặc ớt ngọt Đà Lạt (ăn mỗi tuần 3 lần trong 2 - 3 tháng).
- Chữa chứng đau đầu, chóng mặt: Nấu thịt dơi với bí đỏ (ăn 10 ngày).
- Chữa bệnh cho trẻ em bị ốm yếu, nhiều đàm (hen suyễn), cổ nổi nhiều hạch. Dùng thịt dơi băm chưng, nấu canh, nấu cháo cho trẻ ăn.
- Cải thiện chứng suy giảm tình dục: Nấu cháo dơi với đậu xanh hoặc hạt sen (ăn mỗi tuần 3 lần).

Cá quả - Chữa trĩ ra máu


Cá quả còn có tên gọi là cá chuối, cá lóc. Cá có vẩy nhỏ, cá hình ống tròn, toàn thân màu xám xanh, có nhiều đường vân màu đen, thịt ngon bổ, dễ chế biến thành nhiều món ăn.
Giá trị dinh dưỡng: Trong 100g thịt cá quả chứa 19,8g đạm; 1,4g mỡ; 57mg canxi; 163mg photpho; 0,5mg sắt và các vitamin B1, B2, Axit Nicotinic.
Theo nghiên cứu trong cá quả có chứa 18 loại axit amin, mùa đông lượng canxi trong thịt, huyết, gan tạng cá quả tăng cao. Vitamin C trong cá quả mùa hạ cao hơn mùa đông. Methionine- một axit amin tốt trong thịt cá quả cao hơn cá trắm, cá chim.
Theo y học cổ truyền, cá quả tính hàn vị ngọt, bổ tỳ vị, lợi thuỷ, thông khí, tiêu chướng, bổ âm, tráng dương, dưỡng huyết, bổ tim, thận, khứ phong, nhuận phổi, lợi sữa. Cá quả là món ăn lý tưởng cho người bị phù thũng, phù chân, kinh nguyệt không đều, ra nhiều khí hư, lưng khớp mỏi, trĩ, mẩn ngứa, phổi kết hạn, hoặc người tỳ vị suy, thiếu máu.
Món ăn từ cá quả chữa bệnh:
* Chữa trĩ ra máu: Cá qủa 1 con, tỏi, bạch cập. Cá làm sạch cho vào nồi nấu canh với tỏi và bạch cập để ăn.
* Trị chuột rút: Đầu cá 3 cái, thương truật (cây thuốc) 25g, hạt tiêu 1,5g, mộc nhĩ 25g, rượu. Sấy khô đầu cá cùng với các nguyên liệu khác nghiền thành bột, rồi hoà với rượu để uống, một ngày uống 10g.
* Chữa thiếu sữa, bổ huyết: Cá quả 1 con, vài con giun đất, mắm, muối, hạt tiêu. Cá làm sạch moi ruột, giun đất rửa sạch băm nát nhét vào bụng cá, nêm gia vị rồi cho vào nồi hấp cách thuỷ để ăn.
* Chữa viêm thận mãn tính: Cá 1 con, đậu đỏ, tỏi, đường, giấm. Cá moi ruột, rửa sạch, để vảy; đậu đỏ, tỏi nhét vào bụng cá rồi cho vào nồi hấp chín. Sau đó ăn với đường và giấm.
* Chữa phổi kết hạt: Cá quả 1 con, gừng tươi, táo tàu 3 quả. Cá làm sạch, gừng thái lát, cùng với táo tàu nấu canh để ăn.

Wednesday, June 27, 2012

Cua đồng trị viêm thận cấp


Cua đồng không chỉ là thực phẩm dân dã quen thuộc đối với người Việt Nam chúng ta mà còn là một vị thuốc tốt.
Y học cổ truyền dùng cua đồng chữa ứ huyết khi bị chấn thương bầm dập. Y học hiện đại xác nhận, trong cua đồng có nhiều calci phosphat nên rất tốt cho trẻ còi xương hay người bị loãng xương.
Theo đông y, cua đồng có vị mặn, tính hàn, hơi độc, có tác dụng sinh phong liền gân nối xương; dùng trị nhiệt tà, bạt độc, trừ ghẻ lở và máu kết cục. Điểm đáng lưu ý là không dùng cua đồng có mắt đỏ, có lông ở bụng, có chấm ở lưng và có khoang ở chân. Không được uống nước cua sống vì có thể chứa ấu trùng sán lá.
Canh riêu cua
Trong y học cổ truyền, cua đồng được dùng như sau:
- Chữa trẻ nhỏ còi xương, chậm biết đi:
 Cua đồng làm sạch, bỏ chân, càng, mai, yếm, rang nhỏ lửa cho vàng và khô, tán bột. Dùng 15 g - 20 g khuấy với bột gạo, cho trẻ ăn trong ngày. Kết hợp cho trẻ tắm nắng vào buổi sáng 15 phút, 2-3 lần/tuần.
 - Chữa vết thương đụng dập, lở loét:
 Cua đồng 2 con giã nát, rượu 1 chén, cho vào nồi đun sôi, gạn lấy nước uống, bã đắp vào chỗ đau.
- Chữa tâm trạng bồn chồn, kém ăn, ít ngủ: 
Rau nhút 1 - 2 nắm bỏ rễ, cạo bỏ phần bấc, ngắt đoạn, rửa sạch; khoai sọ 300 g - 400 g cạo vỏ, xắt nhỏ; cua đồng 200 g bỏ yếm, mai, rửa sạch, giã nát, gạn lấy nước. Cho khoai sọ vào nước cua nấu chín, khi gần chín, cho rau nhút vào, đun sôi tiếp 5 - 10 phút. Ăn trong ngày, dùng 2 - 3 ngày.
- Giải nhiệt mùa hè trị lở ngứa: 
Cua đồng 200 g bỏ yếm, mai, rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước; mướp hương 1 - 2 trái cạo vỏ, rửa sạch, cắt miếng; rau đay và mồng tơi tươi mỗi thứ 100 g rửa sạch, cắt đoạn. Đun sôi nước cua và cho các loại rau vào, đến khi mướp chín là được.
- Trị viêm thận cấp: 
Cua đồng 250 g bỏ yếm, mai, rửa sạch, giã nát, lọc lấy nước; vỏ cây dâu 50 g rửa sạch, cắt đoạn. Đem tất cả nấu thành canh, uống nước.
- Trị trướng bụng, chứng phù tim: 
Cua đồng tươi nấu cháo, ăn nóng.
- Chữa sưng tấy: 
Mai cua 10 g sao vàng, vảy tê tê 10 g sao phồng rộp; gai bồ kết 10 g phơi sấy khô. Tất cả tán bột, uống với rượu.
Những người đang bị ho hen, cảm cúm không được ăn cua. Một số người dễ bị dị ứng với cua, sau khi ăn nổi mề đay khắp người xử trí bằng bài thuốc sau: Nam hoàng bá 16g, tía tô 12g, ngân hoa 10g, liên kiều 10g, kinh giới 12g, sài hồ 12g, đinh lăng 16g, cành châu 16g, cam thảo đất 16g, cỏ mần trầu 12g, cát căn 16g, rau má 16g, bạch thược 12g, chi tử 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần. Tác dụng: chống dị ứng, giải độc, trừ tà.
- Đau răng đau lợi do vị nhiệt:
Cua đồng nấu với mướp đắng, ăn hàng ngày. Đồng thời dùng bài thuốc: Hoàng cầm10g, chi tử 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, đinh lăng 16g, bồ công anh 16g, chân cua đồng (sao vàng) 20g, cam thảo 10g, bạch thược 12g, bạch mao căn 16g, khổ qua 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2-3 lần.
- Càng cua đồng rang muối ớt
Càng cua đồng rửa sạch, luộc sơ với nước sôi rồi vớt ra để ráo nước. Bắc chảo lên bếp (không cần dầu mỡ), bỏ càng cua vào chảo và rắc muối ớt vào (tùy càng cua ít nhiều mà rắc muối cho vừa ăn). Rang khô cho đến khi càng cua chín vàng, giòn là được. Sắp càng cua ra đĩa, bên cạnh có đĩa rau răm, ngò gai bốc mùi thơm lừng. Càng cua cay cay, mằn mặn, chấm với muối tiêu chanh thì ngon tuyệt.

Tuesday, June 26, 2012

Thịt rắn mối – món ăn vị thuốc


Rắn mối là con vật rất hiền lành nhưng chưa hẳn ai cũng dám bắt chúng. Người không quen, nhìn chúng đã khiếp sợ huống chi là ăn thịt. Nhưng ai đã một lần ăn thịt rắn mối đảm bảo không thể nào quên bởi cái hương vị thơm ngon, đậm đà, bổ dưỡng.
ĐBSCL rắn mối nhiều, nhất là vào những tháng 11-12 sau khi nước rút. Rắn mối con lớn nhất bằng ngón chân cái, nặng khoảng 100-150 gram, mỗi con dài khoảng một gang tay. Rắn mối có lớp vảy óng ánh trên mình, chạy rất nhanh khi gặp nguy hiểm. Đây cũng là loài nhạy bén trong cách săn mồi, vì chúng có cái mũi và lưỡi rất thính. Gọi là rắn mối vì thức ăn khoái khẩu của chúng là những con mối sống trong các tổ mối và gốc cây mục.
Hiện nay, nhiều người thích thưởng thức các món ăn mang nguồn gốc thiên nhiên. Trong đó, có rắn mối đã được bàn tay khéo léo của con người chế biến ra những món ăn hết sức độc đáo mà đơn giản. Rắn mối có thể chế biến được rất nhiều món ngon miệng. Từ những món đơn giản đến món ăn cầu kỳ như: rắn mối nướng than, chiên giòn, cà ri, xào sả ớt, cháo rắn mối, rắn mối nướng mọi, rắn mối luộc mẻ, khô rắn mối, rắn mối nướng sa tế… Người ta tìm ăn rắn mối như một thực phẩm thượng hạng.
Rắn mối bắt được đem về vẫn còn sống, đem nhấn xuống nước khoảng 20 phút làm chúng bất tỉnh, rồi nướng qua lửa rơm, làm như vậy đuôi của chúng không bị rụng. Nướng rắn mối xong ta dùng một que tre cạo sạch lớp vảy khét rồi đem đi mổ bụng. Công đoạn kế tiếp là bắc nước lên để luộc rắn mối độ khoảng 15-20 phút. Rắn mối chín vớt ra đĩa dùng tay xé lấy thịt loại bỏ xương. Thịt rắn mối trông giống như thịt gà. Để cho thịt rắn mối thơm ngon hơn người ta đem thịt xào sơ qua với hành tỏi, thịt vàng ươm trông rất hấp dẫn. Kế tiếp ta dùng nước luộc rắn mối bỏ gạo đã rang sẵn nấu đến khi cháo nhừ và nêm gia vị cho vừa ăn. Khi cháo đã chín múc ra tô, đừng bỏ qua phần gia vị quan trọng là phi tỏi thật thơm, rắc ít tiêu để ăn cùng với cháo.
Theo lời ông bà truyền lại, thịt rắn mối là một vị thuốc bổ, có giá trị dinh dưỡng rất cao. Trẻ con đêm ngủ thở khò khè, cho ăn thịt rắn mối sẽ khỏi ngay. Ăn thịt rắn mối còn giúp da mặt phụ nữ thêm mịn màng.

Cá chim trị thận hư, liệt dương


Giống như các loài, cá chim cũng có nhiều tên gọi khác như Thoa phiến ngư, Xương ngư, Bình ngư… Tên khoa học Stomateoides argenteus Euphrasen, họ cá chim trắng (Stomateoidae). Cá chim sống ở các vùng biển nước ta. Ngoài ra còn có loại cá chim nước ngọt có nguồn gốc Nam Mỹ được nuôi phổ biến tại nhiều nơi.
Cá chim thịt ngon và bổ, được nhân dân ta coi là đặc sản hàng đầu trong các loài cá biển (chim, thu, nụ, đé). Biển nước ta có nhiều loại cá chim như cá chim trắng, cá chim đen, cá chim gai, cá chim Ấn Độ là loại cá hai vây Momeidea... nhưng gặp phổ biến và có giá trị hơn cả là loại cá chim trắng và đen.
Như đã nói, ngoài các loại cá chim biển, hiện nay ở nước ta còn có loại cá chim nước ngọt. Cá chim nước ngọt có tên khoa học là Colossoma brachypomum, có nguồn gốc tại vùng Amazon, Nam Mỹ, được nhập vào nước ta từ năm 1998. Cá này cho thịt ăn ngon, lại lớn nhanh gấp 3 – 4 lần các loài cá khác, hiện đang được nuôi ở nhiều địa phương. Cá chim trắng nước ngọt có màu xám bạc hoặc màu ánh bạc hơi xanh, hàm trên và hàm dưới của cá đều có răng khá sắc có tác dụng cắn xé thức ăn (cá nhỏ, tôm, tép...). 
Thịt cá chim, dù là cá chim trắng, chim đen hay chim trắng nước ngọt đều là loại thực phẩm ngon và nhiều chất dinh dưỡng, giàu omega - 3, nhiều protein có lợi cho sức khỏe. Cá chim thường được bán trên thị trường dưới các dạng đông lạnh nguyên con, phi lê đông lạnh tươi, cắt khúc đông lạnh tươi.
Đông y cho rằng, cá chim có vị ngọt mặn, tính hơi ôn, đi vào các kinh tỳ & thận. Có công hiệu kiện tỳ, dưỡng huyết, bổ vị cố tinh, nhu lợi cân cốt. Được dùng trong các trường hợp kém ăn, cơ thể suy nhược, hồi hộp, đánh trống ngực (tâm quí), đau đầu hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, quên lẫn, đau nhức, mỏi mệt, tê bại vùng cổ, thắt lưng và tay chân. Liều dùng trung bình từ 200 – 250g/ ngày dưới dạng món ăn như nấu, xào, hầm, om, nướng hay chiên rán.
Dưới đây xin giới thiệu một số món ăn trị bệnh từ cá chim để cùng tham khảo hay ứng dụng mỗi khi cần.
* Trị phong thấp, thoái hóa xương khớp, đau nhức chân tay, lưng đau gối mỏi, yếu: Dùng món canh cá chim hạt dẻ gồm cá chim 250g, hạt dẻ 15 – 20 hạt. Làm sạch cá, hạt dẻ đập dập bỏ vỏ, cho gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
* Trị thận hư, liệt dương, di tinh: Dùng canh ngài tằm cá chim gồm cá chim 250g, ngài tằm 20 con, làm cá sạch cho cùng ngài tằm, nêm gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm ăn 7 ngày.
* Trị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy do tỳ vi hư nhược, thiếu máu do huyết hư thiểu dưỡng: Dùng canh “xương ngư nhị bạch” gồm cá chim 250g, Bạch truật 15g, Bạch thược 15g. Sắc thuốc lấy nước bỏ bã cho cá chim đã sạch, cắt khúc nấu nêm gia vị vừa đủ, ăn trong ngày cùng bữa cơm.
* Trị tiêu hóa kém, chán ăn, gầy yếu: Dùng canh cá chim đậu trắng gồm cá chim 250g, đậu trắng hạt to 30g. Làm sạch cá cắt khúc cho đậu và gừng tươi đập dập, nấu thành canh, them hành sống và gia vị vừa đủ, ăn trong ngày.
* Chữa trị các chứng đau đầu hoa mắt chóng mặt do huyết hư, tim hồi hộp, mất ngủ, suy nhược cơ thể: Dùng món cá chim hầm sâm quy thục hoài sơn gồm cá chim 250g, đảng sâm, đương quy, thục địa mỗi vị đều 15g, sơn dược 20g. Các vị thuốc sắc lấy nước bỏ bã, cho cá chim cắt khúc vào nước thuốc hầm chín ăn trong ngày.
Lưu ý không dùng cho người bị cao mỡ máu, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, và không ăn nhiều.

Wednesday, April 11, 2012

Món ăn – bài thuốc từ cua đồng

Canh cua đồng là món canh giải nhiệt trong mùa hè, kích thích ăn uống và dễ tiêu hóa thức ăn. Y học cổ truyền và y học dân gian dùng cua đồng chữa ứ huyết khi bị chấn thương bầm giập. Y học hiện đại xác nhận: Trong cua đồng có nhiều calci phosphat nên rất tốt cho trẻ còi xương hay người bị loãng xương.

Bộ phận dùng: Cả con cua.
Thành phần dinh dưỡng: Có 12,3% protid; 3,3% lipid; 5.040mg% Ca; 430mg% P; 4,7mg% Fe; 0,01mg% vitamin B1; 0,51mg% B2; 2,1mg% PP; 0,12mg% B6; 125mg% cholesterol. Ngoài ra, có 0,25% melatonin. Mai cua có chất chitin.
Theo Đông y, cua đồng có vị mặn, tính hàn, hơi độc; có tác dụng sinh phong liền gân nối xương. Dùng trị nhiệt tà, bạt độc, trừ lở ghẻ và máu kết cục.
Kiêng kỵ: Không dùng cua đồng có mắt đỏ, có lông ở bụng, có chấm ở lưng và có khoang ở chân. Không được uống nước cua sống vì cua đồng có thể chứa ấu trùng sán lá.
Cua đồng dùng trong y học cổ truyền và y học dân gian:
- Chữa trẻ nhỏ còi xương, chậm biết đi: Cua đồng làm sạch, bỏ chân, càng, mai, yếm, rang nhỏ lửa cho vàng và khô. Tán bột. Dùng 15 – 20g quấy với bột gạo, cho trẻ ăn trong ngày.
- Chữa vết thương đụng giập, lở loét: Cua đồng 2 con, rượu 1 chén. Cua giã nát, cho rượu vào đun sôi, gạn lấy rượu uống, bã đắp vào chỗ đau (Nam dược thần hiệu).
- Chữa tâm trạng bồn chồn, kém ăn, ít ngủ: Cua đồng 200g, rau rút 1 – 2 nắm, khoai sọ 300 – 400g. Cua bỏ yếm, bỏ mai, rửa sạch, giã nát, gạn lọc lấy nước; rau rút bỏ rễ, cạo bỏ phần bấc, ngắt đoạn, rửa sạch; khoai sọ cạo bỏ vỏ, bổ nhỏ. Cho khoai sọ vào nước cua, nấu chín, khi gần được cho rau rút vào, đun sôi tiếp 5 – 10 phút. Ăn trong ngày, dùng 2 – 3 ngày.
- Giải nhiệt mùa hè trị lở ngứa: Cua đồng 200g, mướp hương 1 – 2 quả, rau đay 100g, rau mồng tơi 100g. Cua bỏ yếm, bỏ mai, rửa sạch, giã nát, gạn lọc lấy nước; mướp cạo vỏ, rửa sạch, cắt miếng; rau đay, rau mồng tơi rửa sạch thái đoạn. Đun sôi nước cua, cho các rau vào, đun thấy mướp chín là được.
- Trị viêm thận cấp: Cua đồng 250g, vỏ cây dâu 50g. Cua bỏ yếm, bỏ mai, rửa sạch, giã nát, gạn lọc lấy nước; vỏ cây dâu rửa sạch, cắt đoạn. Nấu thành canh, uống hết nước.
- Trị trướng bụng, chứng phù tim: Cua đồng tươi nấu cháo, ăn nóng.
- Chữa sưng tấy: Mai cua 10g, vảy tê tê 10g, gai bồ kết 10g. Mai cua sao vàng, vảy tê tê sao phồng rộp, gai bồ kết phơi sấy khô; tất cả tán bột. Uống với rượu.

Dược thiện từ món ốc nhồi hấp sả

Đông y cho rằng, ốc có tính hàn, vị ngọt mặn, quy vào kinh vị, đại tràng và bàng quang có tác dụng tiêu viêm, thanh nhiệt, lợi thủy có thể dùng trị chảy máu cam hoặc táo bón…; song lại là món ăn thích hợp cho những người béo phì muốn giảm cân.
Ốc có nhiều loại như ốc dừa, ốc đá, ốc nhồi, ốc bươu, ốc len…; chúng đều là những loại giàu dinh dưỡng. Phân tích thấy trong thịt ốc chứa 11,9% protid; 0,7% lipid; các vitamin (B1 0,01mg%; B2 0,06mg%; PP 1mg%); các muối (Ca 1.357mg%; P 191mg%). Ốc cung cấp 86 calo/100g thịt. Các chất đạm, mỡ, cacbua hydrat, canxi, photpho, sắt, các sinh tố B2, PP, A… có trong thịt ốc rất phù hợp sử dụng cho những người mắc chứng béo phì, bệnh tiểu đường… Nhờ vậy ốc có thể chế biến thành món ăn vừa bổ dưỡng lại phòng trị được nhiều bệnh. Trong dân gian, ốc cũng đã được chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu như luộc, xào, nấu chuối, chiên, hấp…
Để có thể áp dụng, dưới đây xin giới thiệu cách chế biến một món ăn tiêu biểu đó là “món ốc nhồi hấp sả”, món ăn này có công hiệu bồi bổ cơ thể, tăng cường sức khỏe khiến cơ thể kiện tráng, lại phòng ngừa được nhiều bệnh.
Nguyên liệu gồm: ốc nhồi 30 con, thịt lợn nạc dăm xay 200g, giò sống 300g, nấm hương (nấm đông cô) 50g, nấm mèo 50g, củ cải trắng 2 củ, lá chanh 10 lá, ngò rí, ớt hiểm 100g, hành tím 50g, tiêu xay 50g, tôm khô 50g, chanh 2 quả, tỏi 1 củ, sả 20 cây, gia vị: hạt nêm, đường, bột ngọt, nghệ, riềng 200g.
Cách chế biến: Ngâm ốc cho hết nhớt, rửa sạch, luộc sơ, khêu ra lấy phần thịt cắt hạt lựu. Riềng, nghệ, hành tím băm nhuyễn lấy nước mỗi loại khoảng 1 muỗng canh + một phần xác. Nấm đông cô + nấm mèo luộc, cắt nhỏ. Tôm khô ngâm cho mềm, cắt hạt lựu. Trộn đều hỗn hợp các thứ trên, thêm vào hạt nêm, bột ngọt, đường, tiêu, củ sả bằm nhuyễn.
Vỏ ốc sau khi lấy hết phần ruột thì luộc lại với nước gừng hoặc rửa bằng rượu để khử mùi tanh. Nhồi hỗn hợp trên vào vỏ ốc (không chặt quá, vì thịt còn nở), xếp lẫn vào phần thân xả cắt khúc, rồi hấp trong khoảng 12 phút là chín. Dùng củ cải trắng và ngò rí để trang trí. Chấm ốc với nước mắm gừng, thêm sả và lá chanh, ăn nóng

Cá trê – Bổ thận, dưỡng huyết

Cá trê là loài cá nước ngọt, sống ở ao hồ, ruộng bùn, những chỗ tối tăm. Trong 100g thịt cá trê có 16,5g protid; 11,9g lipid; 20mg Ca; 21mg P; 1mg sắt; 0,1mg vitamin B1; 0,04mg vitamin B2; 1,4mg vitamin PP và cung cấp 178 calo. Theo y học cổ truyền, cá trê vị cam, tính ôn, có tác dụng ích âm, khai vị, thúc đẩy việc tạo sữa, lợi tiểu tiêu thũng, bổ huyết.


Một số tác dụng của cá trê:
Dưỡng huyết điều kinh: cá trê 250g, đậu đen 150g, bột canh, nước đủ dùng. Cá trê làm sạch, bỏ mang, ruột, chặt khúc. Đậu đen rửa sạch, đậu đen hầm chín rồi cho cá trê vào hầm cùng với đậu đen tới khi cá chín nhừ, nêm bột canh là dùng được. Món ăn có tác dụng kiện tì, dưỡng huyết, điều kinh.
Bổ thận: cá trê 1 – 2 con, đậu đen 150g. Cá trê khử mùi tanh, nhờn, làm sạch, giữ nguyên đầu, lọc bỏ xương đẻ riêng. Ninh xương cá với 300ml nước để làm nước dùng. Đậu đen xay thành bột, cho vào nước xương quấy đều rồi đun sôi, để nhỏ lửa, cho cá vào nấu chín, nêm gia vị là dùng được. Ăn trong 15 ngày, bệnh sẽ cải thiện rõ ràng.
Chữa loạn kinh: cá trê 300g, ngải cứu 100g, hồng hoa 12g, bột đậu đen 120g, trần bì 6g. Cá trê làm sạch, cho vào nồi cùng bột đậu đen. Ngải cứu, hoa hồng, trần bì cho vào túi vải, buộc kín, cho nước vào đun nhỏ lửa, khi các thứ trong túi vải nhừ bỏ ra, nêm gia vị là dùng được.
Chú ý: Không nên ăn cá trê với rau kinh giới.

Cháo thuốc cho người viêm mũi dị ứng

Viêm mũi là bệnh dai dẳng, thời tiết khí hậu, môi trường không khí thay đổi là bệnh dễ tái phát. Triệu chứng của bệnh: hắt hơi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa trong mũi, niêm mạc mũi bị phù nề, thay đổi màu sắc. Nhiều trường hợp vách ngăn bị cong vẹo, biến dạng làm tắc nghẽn một bên. Viêm mũi thường kèm theo đau đầu, váng đầu, đường thở không thông, nhiều khi người bệnh phải thở bằng miệng.
>> Viêm mũi dị ứng dễ nhầm với viêm xoang
Để điều trị chứng bệnh này, ngoài việc dùng thuốc, Đông y đã sử dụng những dược thiện để hỗ trợ điều trị và cải thiện tình trạng bệnh tât.
Cháo tim lợn – cát cánh:
Nguyên liệu: Tim lợn 1 quả, cát cánh 20g, gạo tẻ 100g, gừng, hành khô, rau gia vị, chanh ớt vừa đủ.


Cháo tim lợn - cát cánh
Cách làm: Tim lợn thái lát mỏng, ướp gia vị để riêng. Rau thơm rửa sạch thái ngắn, gừng sống đập dập băm nhỏ, để riêng. Cát cánh cùng 2 bát nước nấu cho sôi 15 phút. Lấy nước thuốc này cùng gạo nấu thành cháo, khi cháo được cho tim lợn vào nấu thêm ít phút cho chín đều, múc cháo ra bát tô thêm gia vị, rau thơm, chanh ớt, ăn nóng.
Công dụng: Tim lợn bổ tâm, bổ khí. Cát cánh chống viêm, chống dị ứng và có tác dụng co mạch. Rau gia vị như kinh giới, tía tô, hành hoa, sinh khương… chống viêm và tuyên thông phế khí giúp cho đường hô hấp được thông suốt, giảm tiết. Bệnh nhân viêm mũi, tắc mũi, chảy nước mũi nên dùng.
Cháo chân giò lợn – trần bì, bán hạ, sinh khương:
Nguyên liệu: Chân giò lợn 1 cái (chỉ lấy phần xương và móng), trần bì 12g, bán hạ chế 12g, sinh khương 6g. Gạo tẻ 100g, các loại rau, gia vị, chanh ớt…
Cách làm: Chân giò làm sạch chặt miếng cùng với gạo cho vào nồi. Dùng 1 ấm khác bỏ trần bì, bán hạ, sinh khương cùng 2 bát nước nấu sôi 15 phút, lấy nước này cho sang nồi đã có sẵn gạo và chân giò, hầm cho chín kỹ thành cháo (nếu thiếu nước thì chế thêm vào cho vừa đủ). Các loại gia vị đã rửa sạch thái ngắn cùng chanh ớt chuẩn bị sẵn. Khi cháo được múc cháo ra bát tô, nhanh tay nêm gia vị, các loại rau thơm, chanh ớt vừa đủ, ăn nóng.


Móng giò dùng để nấu chân giò - trần bì bán hạ sinh khương
Công dụng: Hạ khí, chống viêm, chống xuất tiết, tuyên thông phế đạo, tác dụng co mạch. Dùng món này người bệnh giảm đau, thông đạt đường hô hấp, khỏi váng đầu, khỏi ngạt mũi, hắt hơi, còn có tác dụng kháng histamin.
Tính năng tác dụng của các loại rau thơm đã sử dụng: Tía tô: giải cảm, tiêu đờm, thuận khí trừ ho; Kinh giới: trừ phong, chống dị ứng, chống ngứa; Lá hẹ: bổ thận nạp khí, tính ôn, lợi chín khiếu, trừ hàn; Trần bì: thông khí giảm ho, bổ tỳ lợi phế; Bán hạ: hạ khí, tiêu đờm, trừ thấp; Sịnh khương: vị cay, tính ấm, giải cảm, tiêu độc; Quả chanh, nước chanh: vị chua tính mát, giải nhiệt, cung cấp vitamin C cho cơ thể; Hành hoa: chống viêm, trừ tà, thông đạt đường hô hấp.
Lương y Trịnh Văn Sỹ

Sò lông – Bổ huyết, tiêu tích

 

Sò lông thuộc họ sò (Arcidae) là một loài động vật thân mềm, có hai mảnh vỏ hình bầu dục, ngả về phía trước. Trong y học cổ truyền, sò lông được dùng với tên thuốc là mao kham. Dược liệu là thịt sò và vỏ sò
.




Sò lông

Thịt sò lông (mao kham nhục) có vị ngọt, mặn, tính ấm, không độc có tác dụng bổ huyết ôn trung, kiện vị, chữa thiếu máu, huyết hư, tiêu hóa kém, đau dạ dày. Cách dùng như sò huyết là đặt sò lông lên than hồng, nướng đến khi hai mảnh vỏ của sò nứt bung ra, nước béo chảy ra. Lấy thịt ăn nóng với gia vị. Tuy thịt sò lông không ngon bằng sò huyết nhưng cũng được nhân dân ưa chuộng và sử dụng khá rộng rãi. Có thể đem thịt sò lông phơi hoặc sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn, rồi uống mỗi lần 4-8g. Ngày 2-3 lần.
Sò lông thường được dùng chữa bệnh dưới dạng thức ăn, vị thuốc như sau: thịt sò lông 100g, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 2g với nước cơm để chữa viêm loét dạ dày, tá tràng mạn tính; nấu với rong biển 50g, ăn cái, uống nước; với râu ngô 30-60g chữa viêm gan, vàng da, sỏi mật; với thịt hến 100g và rễ hẹ 50g lại là thuốc chữa mồ hôi trộm.
Vỏ sò lông (mao kham tử) đã gỡ hết thịt, đem rửa sạch, đập vỡ vụn cho vào nồi trát kín, nung đến khi đỏ hồng. Lấy ra, để nguội, tán nhỏ, rây bột mịn. Hoặc nhúng ngay vỏ đang đỏ hồng vào dung dịch giấm với tỷ lệ 1kg vỏ cần 100ml dấm ăn, rồi mới tán, rây bột. Dược liệu có vị ngọt, mặn, tính hơi lạnh, có tác dụng tiêu tích, hóa đàm, chữa vết máu tụ, tím bầm, tê bại, đại tiện ra máu mủ, kiết lỵ, cam răng. Ngày dùng 12-20g bột dưới dạng nước sắc. Có thể làm viên uống. Dùng ngoài lấy bột xoa.
DS. Đỗ Huy Bích

Ngao bài thuốc quý cho quý ông

Ngao có tên gọi là nghêu hay nghiêu

Tên khoa học Meretrix meretrix L thuộc họ ngao (Veneridae), thịt và vỏ đều được sử dụng làm thuốc trong Đông y chữa trị được nhiều bệnh chứng.
Thịt ngao Đông y gọi là xa ngao nhục, tính hàn, vị ngọt mặn, không độc, có công năng giải độc, tiêu khát, tư âm, lợi thủy, hóa đờm, chủ trị chứng ho nhiều đờm, loét dạ dày hành tá tràng, băng huyết, bỏng, trĩ. Ngoài ra còn trị được phù nước, hoàng đản, phụ nữ bị băng đới, bướu cổ, lao phổi, âm hư, hen suyễn, tiểu đường, viêm phế quản mạn, bỏng, bị thương…
Đông y gọi vỏ ngao là văn cáp, cáp xác hay hải cáp phấn, chứa canxi với hàm lượng cao dưới dạng muối cacbonat, phosphat và sulfat. Dược liệu có vị mặn, tính bình, thanh nhiệt lợi thấp, mát gan, hóa đàm. Chủ trị phiền nhiệt, đau họng, ho tức, ho đờm, băng lậu, tràng nhạc, trĩ… Sách Dược tính chỉ nam ghi: Làm tan được đờm dãi, chữa được chứngmụn nhọt, ác sang, mụn nhọt nhiều máu mủ độc. Liều dùng trung bìnhcho mỗi thang thuốc dạng sắc hoặc thuốc bột uống từ 12-20g mỗi ngày. Cách dùng như nấu thịt chín để ăn, còn vỏ phơi khô, nghiền thành bột gọi là bột vỏ ngao, cất sử dụng dần.
Người ta cũng đã phân tích thành phần chủ yếu của thịt ngao chủ yếu là protein 10,8%; lipid 1,6%; carbuahydrat 4,65%; calcium, sắt, phosphor, vitamin A, B1, B2, PP… Trong 1.000g thịt ngao khô có 2.400 microgram iod. Đặc biệt hơn, thịt ngao cũng là loại thực phẩm cótác dụng kích thích tình dục giống như các loại động vật thân mềm hai mảnh vỏ như ngao, hàu, trai, sò… vì ở chúng có chứa những hợp chất có tác dụng giải phóng hormon tình dục mỗi khi ăn vào được cơ thể hấp thu. Thật vậy, trong hàng thế kỷ nay, người ta đều tin rằng các loài nhuyễn thể thân mềm như ngao, trai, sò… có những đặc tính kích thích tình dục. Cũng theo các nhà khoa học thì những hợp chất như Daspartic acid và NMDA (N-methyl- D-aspartate) ở các loại động vật có vỏ hai mảnh đã kích thích ra testosteronvà oestrogen ở con người mỗi khi ăn nó.
Sau đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ con ngao biển:
Giúp tăng cường sinh lý: Thịtngao 50-100g, gạo tẻ ngon 30g, hành, rau thơm, gia vị vừa đủ. Cho gạo vào nước luộc ngao nấu thành cháo nhừ, sau cho thịt ngao vào nấu sôi chốc lát rồi nêm gia vị,hành, rau thơm vừa đủ, bắc ra, ăn nóng vào buổi ăn phụ trong ngày. Có thể ăn hàng tuần liền, nam nữ đều dùng tốt.
Ngao nướng hấp sả ớt: 0,5kg ngao, cà chua 1 quả, ớt xanh, ớt đỏ, tỏi, hành khô, bơ, dầu ăn… Ngaorửa sạch cho lên vỉ nướng chín tới, tách đôi vỏ ngao lấy phần vỏ có thịt xếp lên đĩa, trình bày với ớt xanh, cà chua, ớt đỏ tỉa hoa, còn lại băm thật nhỏ nhuyễn. Hành, tỏi đập dập băm nhuyễn, bắc chảo nóng, cho dầu ăn và 1 thìa bơ, đợi nóng già cho hành tỏi đã băm vào phi thơm,sau cho hành, tỏi vừa phi thơm đang nóng dội lên đĩa ngao đã rắc ớt đỏ băm nhỏ khiến ngao chín tới, thêm mềm ngọt, dậy mùi thơm của hành, tỏi, nổi vị ngậy của bơ là xong. Ăn nóng.
Chữa đục thủy tinh thể: Theo tài liệu Trung Quốc cho biết: Lấy thịt ngao mật cùng với thịt sò huyết, cốc tinh thảo (mỗi vị đều 50g), sao khô tán nhỏ. Gan lợn 100g, thái mỏng, nước cơm một bát to, cho vào cùng nấu cho nhừ, rồi mang ra ăn cả nước lẫn cái, ngày 1 lần trước khi đi ngủ.
BS. Hoàn Xuân Đại

Món ăn giúp bổ thận sinh tinh

Hiện nay để chữa các chứng suy giảm ham muốn tình dục, ngoài việc dùng thuốc thì cá là một trong những món ăn bổ dưỡng rất tốt cho nam giới bị suy nhược, liệt dương, xuất tinh sớm.




Dưới đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ cá đơn giản, dễ làm có tác dụng bổ thận tráng dương :
Cá trắm đen – phục linh: Tác dụng ích khí bổ huyết, dùng cho đối tượng suy giảm tình dục, mệt mỏi ăn ngủ kém hay quên. Cá trắm đen 500g, phục linh 50g, sơn dược 50g, trứng gà 1 quả. Gừng sống 3g, hành 10g, muối, giấm rượu vừa đủ
.

Phục linh, sơn dược tán thành bột rây nhỏ. Cá trắm đen đánh vẩy bỏ mang ruột, rửa sạch thái lát. Cho lòng trắng trứng gà, bột phục linh, sơn dược, ít muối vừa đậm, rượu trộn đều để ngấm 20 phút, gừng tươi thái nhỏ hành bỏ rễ thái nhỏ. Cho dầu vào chảo, dầu nóng cho gừng hành xào thơm rồi cho cá vào cho đến khi thịt trắng cho bột phục linh, sơn dược, giấm rượu đảo nhanh tay rồi múc ra đĩa để ăn ngày ăn một lần trong 1 tháng.
Cá mè ngũ vị tử: Tác dụng tư âm tiềm dương, ích thận, điền tinh. Chỉ định chứng âm hư, dương kháng do sinh hoạt tình dục không điều độ (quá nhiều) làm kiệt âm tinh, xuất tinh sớm.

Cá mè hoa 1 con (500g) vỏ con hầu 10g, thịt lợn nạc 50g, ngũ vị tử 50g, long cốt 10g. Gia vị vừa đủ. Cá làm sạch cho vào nồi hấp 20 phút, thịt lợn băm nhỏ. Long cốt và hầu (mẫu lệ) nghiền bột rây. Cho dầu vào chảo sôi xong cho thịt băm, ngũ vị tử, long cốt, mẫu lệ vào xào sau đó cho đậu sị, muối, mì chính vừa đủ vào xào chín rồi múc ra đổ lên cá mè đã hấp chín là ăn được. Cách ngày ăn một lần, trong 1 tháng.
Cá diếc – tôm nõn: Chữa thiểu năng tình dục. Cá diếc 2 con (3 lạng/con) nuôi 1 ngày cho nhả hết bùn, đánh vây vẩy bỏ nội tạng và màng đen trong bụng. Tôm nõn 30g, thịt lợn nạc băm 100g, trứng gà 1 quả. Rượu vang đánh đều bọc tôm nõn đảo mỡ hành gừng cho thơm rồi cho lạnh, rượu vang, cá diếc đun sôi 5 phút. Sau đó có đổ tôm nõn, trứng vào nồi (có thể thêm mộc nhĩ nấm hương) đun cho tôm nổi lên. Nêm gia vị vừa ăn, tuần ăn 2 lần, ăn trong 1 tháng
.

BS. Phó Đức Thuần

Món ăn đuôi lợn bổ thận, trợ dương

Đuôi của các loại gia súc đã được dùng từ xưa với công dụng củng cố đốc mạch để chữa nhiều bệnh chủ yếu bổ thận, trị đau lưng, tứ chi mỏi. Trong đó đuôi lợn có tác dụng bổ khí, dưỡng huyết, hỗ trợ chứng thận hư, liệt dương, xuất tinh sớm…

Dưới đây những món ăn, bài thuốc đơn giản, dễ làm:
Đuôi heo sinh địa: Bổ âm dương huyết, thanh nhiệt, giải độc gồm đuôi heo 150g, sinh địa 30g, gừng 10g, hành 20g, muối ăn vừa đủ. Đuôi heo làm sạch, cắt khúc 4cm, sinh địa cắt miếng. Gừng đập nát. Tất cả cho vào nồi hầm nhừ. Khi ăn cho hành cắt đoạn, ngày ăn 1 lần vào bữa cơm chính.
Đuôi heo trần bì: Kiện tỳ, bổ thận, ích tinh. Chữa đau lưng, tiểu nhiều, mệt mỏi, ù tai, hoa măt, đau dạ dày. Gồm đuôi heo 100g, trần bì 1 miếng, hạch đào 10 hạt bỏ vỏ, lạc nhân 10 hạt, muối ăn. Đuôi heo làm sạch, chặt từng khúc ngắn. Đun nước sôi rồi thả đuôi heo, trần bì, hạch đào, lạc đậy kín giảm lửa hầm nhừ, ăn nóng.

Canh đuôi lợn lạc: Công hiệu canh này là dưỡng huyết nhuận táo, cường tráng gân cốt, thích hợp với chứng teo mềm do thận hư huyết thiểu. Triệu chứng sống lưng đau mỏi, chi dưới teo mềm, đầu choáng tai ù, đại tiện khô kết, tiểu tiện nhiều lần. Cũng có thể dùng vào chứng sau khi đẻ phong thấp tê đau mà thấy lưng, chân mất sức, lâu ngày không khỏi.
Đuôi lợn 2 cái khoảng 250g, lạc 30g. Đuôi lợn cạo bỏ mỡ dư thùa, cạo bỏ lông, rửa sạch, cắt đoạn. Lạc bỏ vỏ lấy nhân, rửa sạch. Cho toàn bộ nguyên liệu vào nồi, cho lượng vừa nước, sau khi dùng lửa to nấu sôi, chuyển sang lửa nhỏ nấu 2-3 giờ, nêm gia vị là được.
Canh thung dung, đậu đen, đuôi lợn: Canh này có công hiệu bổ thận trợ dương, nhuận táo thông tiện thích hợp với chứng thận hư liệt dương, táo bón. Triệu chứng lưng gối mỏi mềm, dương sự bất lực, tình dục giảm, xuất tinh sớm, di tinh, tiểu tiện trong dài, đại tiện táo kết.
Đuôi lợn khoảng 250g, nhục thung dung 30g, đậu đen 15g, táo đỏ 3 quả: Đuôi lợn bỏ mỡ, cạo sạch lông, rửa sạch, thái đoạn. Rửa sạch nhục thung dung, đậu đen, táo đỏ (bỏ hạt). Cho toàn bộ nguyên liệu vào nồi, cho vào lượng vừa nước, sau khi dùng lửa to, chuyển sang lửa nhỏ 1-2 giờ, nêm gia vị là được.

Canh quả đào lạc, đuôi lợn:
Công hiệu canh này bổ thận kiện tỳ, cường tráng gân cốt, thích hợp với chứng tê liệt do thận suy khí nhược. Triệu chứng cơ thể mệt mỏi vô lực, gầy yếu, lưng mỏi gối mềm đi lại không vững, khớp xương tê đau.
Quả đào 10 quả, lạc nhân 150g, trần bì 10g, đuôi lợn 1 cái, một ít muối ăn: Đuôi lợn cạo sạch lông, rửa sạch, thái đoạn ngắn. Đào gọt vỏ lấy thịt. Lạc giữ vỏ lụa, rửa sạch. Rửa sạch trần bì , lạc. Cho toàn bộ nguyên liệu vào nồi, cho vào lượng vừa nước, sau khi dùng lửa to nấu sôi, chuyển sang lửa nhỏ hầm 3 giờ, cho một ít muối gia vị là được.
Canh hạt dẻ đuôi lợn: Đuôi lợn 2 cái (khoảng 250), hạt dẻ 60g, ba kích thiên 15g, trần bì 3g: Đuôi lợn cắt bỏ mỡ dư, cạo sạch lông, rửa sạch, thái đoạn. Hạt dẻ bỏ vỏ cứng và vỏ lụa rửa sạch, rửa sạch ba kích thiên và trần bì. Cho đuôi lợn, ba kích thiên, trần bì vào nồi, cho vào lượng vừa nước, sau khi dùng lửa to nấu sôi, chuyển sang lửa nhỏ hầm khoảng 1 giờ, cho hạt dẻ vào hầm lại khoảng 1 giờ nữa, nêm gia vị là được.

Những món ăn thuốc từ cá diếc

Cá diếc, tên khác là tức ngư, phụ ngư. Tên khoa học: L. Cá diếc là loài cá nước ngọt.
Theo Đông y, thịt cá vị ngọt bình, vào tỳ vị và đại tràng. Tác dụng kiện tỳ, hành thuỷ lợi thấp, khai vị, hạ khí thông nhũ, thanh nhiệt giải độc. Dùng cho các trường hợp suy nhược, mỏi mệt ăn kém, tiêu chảy, kiết lỵ, phù, đại tiểu tiện xuất huyết, chữa trĩ, đại tiện ra máu, lao, bệnh đái tháo đường, dương vật không cương cứng, xuất tinh sớm. Mật cá có vị đắng, tính lạnh.

Một số món ăn chữa bệnh có cá diếc:
Canh cá diếc củ cải: Cá diếc 200g, củ cải 200 – 400g. Cá diếc mổ bỏ ruột, rửa sạch; củ cải rửa sạch, cắt khúc; cho cá và củ cải vào nồi, thêm nước và gia vị, hầm nhừ (có thể cho thêm khế cùng hầm). Khi ăn thêm tương dấm hoặc vắt chanh. Ăn khi đói. Dùng cho các trường hợp đầy bụng, lạnh bụng không tiêu, ăn kém, suy nhược cơ thể.
Cá diếc hầm chân giò: Cá diếc 200g, giò heo 1 cái, thông thảo 10g, thêm nước gia vị hầm nhừ, bỏ bã thông thảo. Dùng cho bệnh nhân ít sữa, tắc sữa.
Cá diếc nướng: Cá diếc 1 con, làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang, cho 1 lượng phèn chua bằng hạt lạc đã đập vụn vào bụng cá, đem cá nướng chín. Ăn với dấm mắm gia vị. Dùng cho hội chứng lỵ, đại tiện nhiều lần trong ngày.
Cá diếc nhồi lá chè nướng: Cá diếc 1 con, làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang. Cho lá chè non vào bụng cá, bọc giấy nướng chín. Ăn khi đói, ngày 1 – 2 lần, dùng trong vài ngày. Chữa bệnh đái tháo, tiêu khát, uống nhiều nước.
Cá diếc hầm sa nhân, cam thảo: Cá diếc 1 con, sa nhân 8g, cam thảo 4g. Cá làm sạch bỏ ruột, để nguyên vảy, gỡ bỏ mang; sa nhân, cam thảo giã vụn cho vào bụng cá; cho nước, hầm nhừ. Không cho ớt, muối mắm, cho các gia vị khác. Ăn liên tục đợt 3 tuần. Dùng cho bệnh nhân phù thũng toàn thân.
Cá diếc hầm đậu đỏ: Cá diếc 200g, xích tiểu đậu 100g. Cá diếc làm sạch bỏ ruột, để nguyên vay, gỡ bỏ mang cho vào nồi cùng xích tiểu đậu, nước, hầm nhừ, thêm gia vị nhưng hạn chế muối. Dùng cho các trường hợp phù nề tay chân (cước khí), phụ nữ có thai phù thũng, còn có tác dụng an thai.
Cá diếc sấy khô 100g, gừng khô 60g, bán hạ chế 60g. Tất cả nghiền thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g với nước ấm. Chữa viêm phế quản mạn tính.
Cá diếc nấu với hoàng kỳ, khởi tử, rượu vang, gừng sống, hồ tiêu, giấm và đường. Một món ăn bổ huyết, dưỡng da, làm cho da dẻ hồng hào, sắc mặt tươi tắn.
Cá diếc nấu với kim anh tử: cá diếc 40g, kim anh tử 20g, gia vị đủ dùng. Cá diếc làm sạch. Cho cá vào chảo rán qua, sau đó đổ nước và kim anh tử vào hầm tới khi cá chín, nêm gia vị là dùng được. Món ăn có tác dụng làm mạnh tì vị, ích khí huyết, cố tinh. Những người thận hư, di tinh, cơ thể gầy yếu suy nhược nên dùng.
Cá diếc nấu với bí đao: cá diếc 250g, bí đao 100g, sinh địa hoàng 10, gừng, hành, gia vị đủ dùng. Cá diếc làm sạch, ướp gia vị chừng 30 phút. Bí đao rửa sạch, để nguyên vỏ, cắt khúc. Cho bí đao vào chõ, sau đó đặt cá lên trên, thái gừng và hành đem hấp tới khi cá chín. Nước hấp cá cho sinh địa hoàng vào đun sôi, bắc ra. Khi ăn, ăn cả nước và cái. Cách ngày ăn 1 lần, ăn trong vòng một tháng. Món ăn có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, thích hợp với những người có chứng tích nhiệt ở bàng quang, xuất tinh sớm, cơ thể gầy yếu.
Cá diếc hấp hạt sen, dâm dương hoắc: cá diếc 1 con, hạt sen 20g, thịt nạc thăn 50g, dâm dương hoắc, đỗ trọng 8g, gia vị, rượu đủ dùng. Cá làm sạch, thịt nạc thăn rửa sạch, thái nhỏ, thịt nạc và các vị thuốc trên rửa sạch, buộc kín trong túi vải cho vào bụng cá, đặt cá vào chõ hấp chừng 30 phút là dùng được. Món ăn có tác dụng bổ ích tâm tì. Những người mắc chứng di tinh, xuất tinh sớm, dương vật khó cương cứng nên sử dụng.
Chú ý: Người có urê huyết cao, hôn mê gan không nên ăn cá diếc.

Vị thuốc từ vỏ hàu

Con hàu hay còn gọi là hầu, vỏ của nó còn được gọi là vỏ hàu, vỏ hà với tên thuốc là mẫu lệ.
Thịt hàu có hương vị rất thơm ngon, chứa nhiều chất bổ: protid, chất béo, glucid, muối khoáng nên là món ăn được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.
Để có nguyên liệu làm thuốc từ hàu, sau khi lấy phần thịt hàu làm thức ăn, người ta thu lấy vỏ hàu, ngâm vào nước sạch cho bở các chất bẩn bám phía ngoài, sau đó lấy bàn chải cứng, chải nhiều lần theo các thớ vỏ. Rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Nếu dùng dưới dạng mẫu lệ sống, cho vỏ hàu vào túi vải dày, buộc đầu túi lại, dùng chày gỗ đập thành mảnh vụn nếu dùng dưới dạng bột nung, cho vỏ hàu vào lò nung ở nhiệt độ 600 – 700oC khoảng 6 – 7 giờ liền. Để nguội, lấy ra, tán mịn.
Thành phần chủ yếu của mẫu lệ là canxi cacb

Vỏ hàu cho vị thuốc mẫu lệ
onat, canxi photphat, canxi sunfat và Mg, Al, Fe…
Theo y học cổ truyền, mẫu lệ có vị mặn, sáp, tính hơi hàn. Quy kinh can, vị, đởm và thận. Có công năng an thần, bình can, tiềm dương, bổ âm, nhuyễn kiên, tán kết (làm mềm các khối rắn). Dùng trị can dương thịnh, gây chóng mặt, đau đầu, hoa mắt, mất ngủ có thể phối hợp với long cốt, bạch thược, bạch vi, cúc hoa, hắc táo nhân… Trị di tinh, tảo tiết, ra nhiều mồ hôi, mồ hôi trộm. Làm mềm các khối rắn bị kết lại thành hòn cục trong cơ thể. Phối hợp với huyền sâm, hạ khô thảo, hải tảo, bối mẫu… trị u xơ tuyến vú, lao hạch… Phối hợp với ngũ vị tử, hương phụ trị di tinh, băng lậu đới hạ, đau dạ dày, ợ chua.
Cần lưu ý, trong trường hợp dùng với tính chất làm tiêu các u, cục (nhuyễn kiên)… thì nên dùng vị thuốc dưới dạng sống (không qua nung). Khi qua nung, mẫu lệ tăng cường tác dụng cố sáp, dùng tốt cho các chứng ra mồ hôi trộm, mồ hôi nhiều, di tinh, hoạt tinh, băng lậu, đới hạ; đặc biệt các trường hợp đau dạ dày ợ chua, những trường hợp viêm loét dạ dày – tá tràng, ợ chua do bài tiết dịch vị quá nhiều. Do vị thuốc chứa nhiều muối canxi cacbonat, có thể trung hòa các axít trong dịch vị. Liều dùng mỗi ngày từ 9 – 30g.
Mẫu lệ thường được dùng làm thuốc trị một số bệnh sau:
Trị ra mồ hôi nhiều, mồ hôi trộm, đoản hơi: mẫu lệ, rễ ma hoàng mỗi vị 3g, phù tiểu mạch 9g. Tất cả làm thành bột thô, sắc uống, ngày một thang. Uống liền 3 – 4 tuần tới hết triệu chứng, có thể uống vài liệu trình.
Trị chứng dương hư ra nhiều mồ hôi: bá tử nhân 60g, mẫu lệ, rễ ma hoàng, nhân sâm, bạch truật, bán hạ, ngũ vị tử mỗi vị 30g, tiểu mạch 15g. Làm hoàn, mỗi lần uống 10g. Uống liền 2 – 3 tuần, tới hết triệu chứng, có thể uống vài liệu trình.
Trị di tinh, hoạt tinh, đau lưng, tai ù, chân tay vô lực: tật lê, khiếm thực, liên tu mỗi vị 60g, long cốt (nung), mẫu lệ (nung) mỗi vị 30g, thêm bột liên nhục làm hoàn. Mỗi lần uống 9g, ngày 2 – 3 lần. Uống liền 2 – 3 tuần lễ, tới khi hết triệu chứng, có thể uống vài liệu trình.
Trị khí hư bạch đới: mẫu lệ (nung), hoa hòe mỗi vị 40g. Dùng dưới dạng bột, ngày 12g, uống liền vài tuần, đến khi hết triệu chứng, có thể uống thêm vài liệu trình.
Bột mẫu lệ nung, còn được dùng làm phụ liệu trong chế biến thuốc y học cổ truyền, nhất là phương pháp “sao cách”, đối với các vị thuốc dẻo, dính, như các loại cao động vật (cao ban long, cao ngũ cốt…).
GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Bài thuốc từ cá diếc

Cá diếc còn gọi là tức ngư, tên khoa học Carassus auratus L. có thịt dày, vị thơm, là món ăn ngon và lành, thịt cá chứa nhiều dinh dưỡng, protein chiếm 17,7%, lipid 1,8%, khoáng chất như Ca 70mg%, P 152mg%, Fe 0,8mg%, nhiều vitamin các loại như B1, acid nicotinic…

Do đó Đông y cho rằng ,cá diếc nấu canh ăn có tác dụng ôn trung bổ hư, kiện tì, lợi tiểu… Bởi thế được dùng cho những người bệnh lâu ngày, cơ thể suy nhược, gầy còm ốm yếu, khí huyết bất túc khiến ăn uống kém, ợ chua, hoặc tỳ hư phù nề, tiểu tiện khó…
Theo Đông y, cá diếc có tính vị bình hòa, không độc, tác dụng bổ tỳ, vị, hành thủy, tiêu thũng, chỉ khát, làm se, sát khuẩn, nên được sử dụng trong nhiều chứng bệnh khác nhau đặc biệt là các món ăn thuốc sau:
Chữa buồn nôn, nôn mửa: Cá diếc 1 con 250g, làm sạch trộn với sa nhân 3g, gừng sống 3g, hồ tiêu bột 3g, đổ 400ml nước, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Đái tháo, khát nước nhiều: Cá diếc 1 con, làm sạch bỏ ruột, nhét lá chè non vào bụng, bọc giấy xung quanh nhiều lần rồi đốt cho cá chín, tán nhỏ, chia ra nhiều lần uống trong ngày chiêu với nước ấm.
Chữa viêm phế quản mạn: Lấy thịt cá diếc sấy khô tán bột, củ bán hạ đồ chín ngâm trong nước gừng và nước phèn chua trong 24 giờ (theo tỷ lệ: cứ 1kg củ bán hạ dùng 300g gừng tươi giã nát và 50g phèn chua tán nhỏ, rồi đổ nước xâm xấp vào ngâm). Sau lấy ra phơi khô thái mỏng, lại tẩm nước cam thảo và sao vàng tán bột. Gừng khô cũng tán bột mịn. Cuối cùng lấy 50g bột cá diếc trộn với 3g bột bán hạ cùng 3g bột gừng khô rồi chiêu với nước sôi còn ấm trong mỗi lần uống hằng ngày.
Chữa viêm loét dạ dày: Bong bóng cá diếc rửa sạch, rán giòn bằng dầu vừng, tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 – 6g, chiêu với nước ấm.
Tiêu chảy mạn do tỳ vị hư hàn: Cá diếc to một con, đánh sạch vảy, bỏ vây. Bụng cá cần rạch từ trên sống dưới dài khoảng 5cm, moi bỏ ruột rửa sạch, nhét vào bụng cá 5g trần bì, 5g sa nhân, 5g tất bạt, 10g tỏi, 5g hạt tiêu, 5g ớt bột và hành, muối, rượu vang vừa đủ. Cho cá diếc đã nhồi các thức vào bụng, rán vàng bằng dầu thực vật, rồi cho vào nồi om nhừ bằng lửa nhỏ, vứt bỏ các thức trong bụng, ăn cá uống nước canh.
Phù do thận: Cá diếc sống 1 con 400g, đánh vảy bỏ vây ruột, nhét vào bụng 10g đậu đỏ, râu ngô 10g, sau cho vào nồi đổ đủ nước hầm nhừ bằng lửa nhỏ và gạn lấy nước uống, cách 1 ngày uống 1 lần, chỉ uống 3 lần.
Xuất huyết tử cung: Cá diếc 1 con 250g, mổ bụng bỏ ruột và nhét vào đương quy 15g, huyết kiệt 5g, nhũ hương 5g, sau dùng bùn bọc cá và cho vào than nướng tồn tính, lấy ra bóc bỏ lớp vỏ bùn, tán bột. Mỗi lần uống 5g, ngày uống 2 lần chiêu với rượu vang hay rượu nhẹ độ.
Chữa viêm đại tràng mạn: Ăn cháo cá diếc có tác dụng ích khí, kiện tỳ, phù hợp trị chứng viêm đại tràng mạn. Cá diếc con 250 -300g, gạo tẻ 50g, làm sạch cá, bỏ ruột, cho vào nồi, để nhỏ lửa hầm kỹ, lấy nước cho gạo vào nấu thành cháo nhừ mới bỏ cá vào, nêm gia vị, ăn nóng.
Chữa đau gan vàng da: Cá diếc 1 con làm sạch, bỏ ruột, nướng qua, rồi cho rau má và lá mơ nấu cùng, ăn trong ngày. Cần ăn thường xuyên.
Chữa phù ở trẻ em (kể cả chứng kiết lỵ): Cá diếc một con làm sạch, bỏ ruột, phèn phi một cục tán nhỏ, nhét vào bụng cá, gói lại đốt tồn tính, tán bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5g chiêu với nước ấm.
Chữa biếng ăn ở trẻ: Cá diếc một con làm sạch, nướng qua rồi cho vào cùng rau rút nấu canh ăn nhiều ngày liền.
Làm tăng sữa: Dùng cá diếc nấu với nấm hương ăn nhiều ngày.
Làm ấm bụng, hạ khí: Dùng cá diếc nấu với ngũ vị tử ăn vài ngày.
Bổ huyết và dưỡng da: Làm da hồng hào tươi mát. Cá diếc một con, làm sạch bỏ ruột, nấu với câu kỷ tử 10 – 12g, hoàng kỳ 12g, gừng sống 3g, hành, giấm, hồ tiêu, rượu vang hoặc rượu nhẹ độ. Nấu cùng mang ra ăn, ngày 1 thang, cần ăn nhiều ngày.
Làm tiêu thũng: Cá diếc một con, làm sạch, bỏ ruột, nướng qua, cho đậu đỏ hoặc vỏ bí đao nấu cùng, ăn cái, uống nước ngày 1 thang, ăn vài ngày.
Thiếu sữa hay suy nhược sau sinh: Cá diếc 1 con 400g, rửa sạch sau khi mổ bỏ ruột, nhét vào bụng cá hoàng kỳ 30g, đương quy 15g, thông thảo 10g, khâu lại và cho vào nồi vừa nước, hầm lửa nhỏ đến nhừ. Ăn cá uống nước canh liền trong 5 ngày.
BS. Hoàng Tuấn Long

Tuesday, April 10, 2012

Vị thuốc bổ từ con cà cuống

Cà cuống còn được gọi là đà cuống, sâu quế hay long sắt, với tên khoa học là Belostoma indica Vitalis hay Lethocerus indicus Lep. et Serv.


Con cà cuống
Cơ thể cà cuống hình lá, dẹt giống con gián (nhất là khi non), dài 6 – 7cm, rộng 2,5cm, màu nâu xám pha vàng nhạt, có nhiều vạch đen bóng. Ở dưới ngực cà cuống đực, có hai túi nhỏ và dài (gọi là bọng cà cuống) chứa một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh, đó là tinh dầu có tên hoá học là veleriant amil. Chất tinh dầu này không độc, có vị cay, mùi thơm ngát, thường được dùng làm gia vị trong bữa ăn của người Việt Nam ta, nhất là ở nông thôn, trong những mùa gặt hái. Song cũng là một vũ khí lợi hại để tấn công con mồi, xua đuổi địch thủ và dụ con cái đến giao phối. Bụng có những khía ngang và ít lông mịn màu vàng nhạt.
Bộ phận dùng làm thuốc của cà cuống là thịt, trứng và tinh dầu. Cà cuống sau khi vặt bỏ cánh có thể dùng tươi sống.
Người ta bắt cà cuống vào tháng 4 đến tháng 9. Đem về vặt bỏ cánh, thường dùng tươi sống. Thịt và trứng cà cuống chứa protein với hàm lượng khá cao, lipid và các vitamin.
Đông y cho rằng dược liệu có vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, lợi tiêu hóa.
Trong dân gian, người ta dùng thịt và trứng cà cuống để ăn dưới dạng luộc hoặc rán sau khi đã lấy túi tinh dầu. Có thể để nguyên con, chỉ vặt bỏ cánh, hấp chín, rồi băm nhỏ dùng làm gia vị đặc biệt cho món nước chấm bánh cuốn và nước dùng bún thang.
Còn tinh dầu là một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh có trong hai túi nhỏ và dài ở dưới ngực cà cuống đực. Chất thơm được xác định là hexanol acetate. Có thể lấy bằng cách sau: dùng đầu nhọn của que tre hay mũi dao rạch một đường ngang ở vị trí giữa đôi chân thứ ba. Gấp bụng cà cuống xuống để bộc lộ hai túi tinh dầu, sau đó dùng kẹp khẽ gắp túi và rút ra một cách nhẹ nhàng (tránh làm rách túi), rồi chích túi cho tinh dầu chảy vào lọ khô, sạch, đậy kín cất dùng dần. Nếu đựng trong lọ có nút mài thì có thể bảo quản được rất lâu. Tinh dầu cà cuống được sử dụng như thịt và trứng.
Trên thực nghiệm y học, tinh dầu cà cuống được dùng với liều thấp theo giọt như một chất kích thích thần kinh, gây hưng phấn và tăng cường nhẹ khả năng sinh dục. Người ta cũng đã tổng hợp được tinh dầu cà cuống nhân tạo với mùi vị như tinh dầu thiên nhiên, nhưng chất lượng kém hơn.
BS. Hoàng Xuân Đại