Showing posts with label CON VẬT. Show all posts
Showing posts with label CON VẬT. Show all posts

Wednesday, February 8, 2012

Tắc kè: Ích khí, trợ dương


Tắc kè tên thuốc là cáp giới. Từ lâu, y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian đã công nhận tắc kè có giá trị cao về mặt bổ dưỡng: ích khí, trợ dương, lợi huyết, tăng cường sinh lực. Dạng phơi khô được dùng chữa yếu sinh lý, liệt dương, đái rắt, đái són, đau xương, đau mình.

Cách chế biến: Lật ngửa tắc kè, ghìm chặt 4 chân, rạch một đường từ cổ đến gốc đuôi, bỏ ruột, lau sạch máu và nhớt (không rửa nước). Dùng 2 que to, một que xuyên ngang căng 2 chân trước, que kia xuyên ngang 2 chân sau, rồi lấy 2 que mềm hơn đặt chéo trong bụng để căng cho phẳng và cuối cùng lấy một que dài và cứng xuyên dọc từ đầu đến quá chót đuôi. Dùng giấy bản quấn chặt đuôi vào que để khỏi bị đứt hoặc gãy rơi mất (vì đuôi tắc kè là bộ phận quý nhất). Đem phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ 50-60oC.
Dược liệu có hình dẹt, phẳng, đầu, đuôi, chân đều căng phẳng. Mắt lõm xuống, miệng có răng rất nhỏ. Lưng màu đen xám, điểm những chấm nâu sáng, trắng hoặc vàng nhạt. Toàn thân có những vảy rất nhỏ, nhẵn bóng. Thứ con to, béo mập, thịt trắng, đuôi còn nguyên vẹn là loại tốt. Ngoài thị trường, người ta thường buộc tắc kè khô thành từng đôi để bán (1 con to, 1 con nhỏ) tượng trưng cho 1 con đực và 1 con cái.
Khi dùng, lấy 3-4 con tắc kè đã chế biến nhúng vào nước sôi, cạo sạch vảy ở lưng, chặt bỏ 4 bàn chân và đầu từ 2 mắt đến miệng. Cắt thành miếng nhỏ, tẩm nước gừng, sao vàng rồi ngâm vào 1 lít rượu 40o, thêm ít trần bì cho thơm, để 10-15 ngày, càng lâu càng tốt. Thỉnh thoảng lắc đều, rồi lọc kỹ thành rượu tắc kè, ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 1 cốc nhỏ. Thêm đường cho dễ uống.
Dùng riêng hoặc phối hợp với một số vị thuốc như: tắc kè 50g, ba kích 100g, hà thủ ô đỏ 100g, hoàng tinh hoặc thục địa 100g, đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35o để được 300ml. Các dược liệu khác cũng ngâm với rượu 35o trong 10-15 ngày, được 700ml. Hòa lẫn 2 rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để thành 1 lít. Lọc kỹ. Ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 15-20ml sau bữa ăn hay trước khi đi ngủ. Người yếu sinh lý uống rất tốt.

Ếch làm thuốc phòng chữa nhiều bệnh

 


Đùi ếch xào.
Ếch còn có tên là điền kê, thanh kê... vị ngọt, tính hàn, vào kinh tỳ vị, bàng quang, không độc. Có công dụng bồi bổ tỳ vị, trị lao, nhiệt, hư phiền, trẻ em lở ngứa, trị phù thũng (lợi thủy) an thai.
- Trẻ bị cam tích (bụng ỏng, đít beo) do nhiều nguyên nhân trong đó do hấp thu đạm kém, còi xương, suy dinh dưỡng. Dùng ếch an toàn hơn dùng cóc, chỉ cần khắc phục tính lạnh hơn cóc bằng những cách tăng ôn tính cho ếch như làm chả băm cùng rau thơm, hành mùi...
- Trẻ hay ra mồ hôi trộm (âm hư) biếng ăn, yếu mệt, chậm phát triển, hay ho sốt. Trẻ em mùa hè bị rôm sảy mụn nhọt, ngứa lở, quấy khóc ngủ không yên. Dùng cho trẻ và người già chỉ lấy thịt ở hai đùi để tránh xương gây hóc. Phụ nữ sau sinh nở bị phù, thể lực kém sút, da mặt vàng sạm - Thủy thũng: Ếch nấu hẹ, hoặc rán chấm dấm. Lao phổi âm hư (ếch xào bách hợp). Trạng thái bồn chồn không yên do tỳ hư phát nhiệt. Miệng họng viêm loét do nhiệt. Bệnh ngoài da viêm tấy sưng đau.
Dùng ếch chữa bệnh nội thương bằng 2 cách:
- Dùng thịt ếch cả da để bổ dưỡng, thịt hấp ăn và để chữa bệnh thì thêm nước sôi hấp chín lấy nước là chủ yếu để uống nước, ăn thịt là phụ.
- Thịt ếch phối hợp các vị thuốc tương ứng từng bệnh (dược thiện). Ví dụ chữa tỳ hư phối hợp cùng hoài sơn, khiếm thực, hạt sen. Chữa thận thêm kỷ tử, đỗ trọng... Chữa phù thũng phối hợp sa nhân, la bạc tử (hạt cải củ)...
- Bồi dưỡng khi yếu mệt, ốm dậy. Dùng các món ăn có ếch (cung cấp đạm dễ tiêu, mát). Ví dụ: Cari ếch. Thịt ếch để cả da, chặt một con 8 miếng, tẩm bột cari, bột ngũ vị, tỏi, ớt, bột ngọt, đường muối. Đem xào thơm, cho khoai lang miếng đã chiên sẵn, chế nước cốt dừa. Chờ sôi nêm vừa ăn. Cuối cùng hành tây thái dọc xào qua. Khi ăn có thể vắt chanh, chấm nước mắm ớt.
- Bổ thận khí, chữa đi tiểu nhiều lần ban đêm: Dùng cho người già bị viêm tuyến tiền liệt. Ếch 1 con (90g), tang phiêu tiêu 9g, ba kích 9g, câu kỷ tử 15g, sơn du nhục 30g. Ếch làm sạch (bỏ lòng) chặt miếng. Thuốc cho vào túi đổ nước vừa đủ nấu sôi rồi hạ lửa nhỏ ninh trong 2 giờ. Nêm gia vị vào canh.
- Ếch xào bách hợp: Tri bổ thân âm, thanh nhiệt nhuận phế. Chữa phế thận âm hư do thận tinh thương tổn, ảnh hưởng vào phế. Bách hợp 10g, măng lau tươi 10g, ếch 250g, mã thầy 100g ít rượu và gia vị (ếch bỏ đầu, da, ruột).

Vị thuốc hay từ rết



Con rết được đông y sử dụng làm thuốc với tên gọi là ngô công từ rất lâu, đã được ghi đầu tiên trong sách bản kinh. Rết còn gọi với nhiều tên khác như: Thiên long, Bạch túc trùng, bạch cước, có tên khoa học là scolopendra subspinipes mutilans L.koch; tiếng Anh gọi rết là centipede. Là loài sống hoang trên mái nhà, dưới gầm tảng đá, hay các khúc gỗ mục nát...
Rết trong Đông y
Đông y cho rằng vị thuốc từ rết có vị cay, tính ấm, có độc và đi vào kinh Can. Theo các y thư cổ như sách Bản kinh nói vị cay, tính ôn. Danh Y biệt lục nói có độc. Ngọc thư dược giải nói vị cay hơi ôn. Bản thảo cương mục nói nhập quyết âm kinh. Y lâm soạn yếu thâm nguyên nói nhập can, tâm.
Người ta cũng đã phân tích thành phần của con rết, thấy chủ yếu là toàn thân nó có 2 nọc độc như nọc độc của ong giống chất histamine và chất protide tán huyết. Ngoài ra còn deltahydroxylysine taurin, acide amine, dầu mỡ và cholesterol.
Con rết (ngô công).

Cũng theo Đông y, tác dụng dược lý của ngô công là tức phong chỉ kinh (chống co giật), giải độc, tán kết, thông lạc, chỉ thống (cầm đau). Chủ trị các chứng kinh phong cấp hay mạn, phong đòn gánh, trúng phong, động kinh, sang độc, loa lịch ác sang, rắn độc cắn, đau đầu khó khỏi, phong thấp tý thống... Trong y thư cổ như sách Bản kinh nói chủ trị các chứng độc do rắn cắn, trùng, cá. Danh y biệt lục nói trị tâm phúc hàn nhiệt kết tụ, trụy thai, khử ác huyết. Bản thảo cương mục nói trị trẻ em co giật, tề phong, cấm khẩu, đơn độc, loa lịch, trĩ lậu, rắn cắn.
Y học hiện đại cũng đã nghiên cứu dược lý của ngô công, thấy có tác dụng chống co giật, thể hiện trên thực nghiệm ở chuột dùng ngô công và toàn yết (bò cạp) 2 thứ lượng như nhau, có tác dụng chống co giật do strychnine. Song lại có khả năng ức chế ở mức độ khác nhau đối với trực khuẩn lao và nấm ngoài da. Đặc biệt, thuốc có khả năng kháng hoạt tính ung thư. Có tác dụng tiêu sưng, tiêu độc.
Các phương thuốc thường dùng
Trị trẻ quấy khóc, chân tay co giật: dùng ngô công, toàn yết và chu sa 3 thứ lượng bằng nhau, tán bột mịn trộn đều. Mỗi lần uống 0,5 - 1,5g chiêu với nước ấm.
Trị uốn ván: dùng phương ngô công tán, gồm ngô công, chế nam tinh, phòng phong, bong bóng cá, các vị có lượng bằng nhau tán bột mịn, trộn đều, mỗi lần uống 2 - 4g chiêu với rượu. Hoặc dùng khương hoạt 10g, xuyên khung 10g, đại hoàng 10g, bán hạ 10g, phòng phong 10g, chế xuyên ô 10g, cương tằm 10g, chế nam tinh 10g, bạch chỉ 10g, ngô công 3 con, xác ve 10g, bạch phụ tử 12g, toàn yết 10g, thiên ma 10g, cam thảo 10g. Cho nước vào sắc mỗi thang làm 3 lần, lấy mỗi lần 1 bát (3 lần 3 bát ứng với 600ml). Ngoài ra lấy hổ phách 3g, chu sa 3g, tán bột mịn chia 3 phần. Uống 3 lần trong ngày. Mỗi lần uống 200ml nước thuốc sắc cùng một phần thuốc bột này. Cách 6 - 8 giờ lại uống 1 lần.
Trị liệt thần kinh mặt: ngô công 1- 2 con (ứng với 1 - 2g rết khô), cam thảo 3g, tán bột mịn, trộn đều uống với nước sôi để nguội.
Trị liệt thần kinh mặt, đau nhức tê thấp, trẻ em cấm khẩu không bú được: lấy rết (bỏ đầu, chân), tán bột mịn, trộn với lượng bột cam thảo bằng với bột rết hồ làm viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,5g chiêu với nước lọc.
Trị mụn nhọt: dùng rượu rết (lấy con rết ngâm vào rượu cồn 900 để ít nhất 1 tuần hãy dùng). Dùng bông thấm vào rượu rết, bôi vào nơi mụn nhọt, ngày 2 - 3 lần.
Trị rắn cắn, mụn, chốc lở đầu ở trẻ em: dùng dầu rết, lấy rết sống (8 phần) và 2 phần muối cho vào dầu vừng (mè) ngâm trong 2 tuần là sử dụng. Lấy dầu này bôi vào vết rắn cắn băng lại, bôi nơi mụn nhọt, chốc lở đầu.
Trị vết sưng tấy: lấy ngô công 2 con còn sống ngâm trong 500ml cồn 750, gia hồng hoa trong 7 ngày, lấy bôi vào vết sưng tấy có hiệu nghiệm.
Trị lao khớp: dùng phương kết hạch tán gồm ngô công 6g, toàn yết 9g, thổ miết (yếm ba ba) 9g, tất cả tán bột mịn, mỗi lần lấy 3g chưng với trứng gà để uống.
Trị ung thư gan sưng đau: lấy ngô công tán bột mịn, mỗi lần lấy 1,5 - 3g chưng với trứng gà mà uống. Ngày uống 1 - 2 lần.
Trị ung thư dạ dày, thực quản: lấy ngô công 20 con, hồng hoa 6g, rượu trắng 600 nửa lít (500ml), cho tất cả vào ngâm sau 26 ngày mới sử dụng. Mỗi lần uống cứ 6 phần rượu thuốc hòa vào 4 phần nước sôi để nguội mà uống. Ngày 1 - 2 lần.
Những điều cần lưu ý
Liều uống trung bình mỗi lần cho dạng thuốc bột là 0,6 - 1g, mỗi ngày uống 1 - 3g. Thuốc ngô công tuy có tác dụng chống co giật và giảm đau mạnh, nhưng độc mạnh, do vậy, nếu dùng trong thường thay bằng toàn yết, còn ngô công chỉ sử dụng trị bên ngoài.
Thuốc gây tán huyết, choáng dị ứng, với lượng nhỏ gây hưng phấn cơ tim, lượng lớn gây liệt cơ tim, ức chế trung khu hô hấp.
Triệu chứng nhiễm độc biểu hiện nôn, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, mỏi toàn thân, mạch chậm, hồi hộp, khó thở, thân nhiệt hạ, huyết áp tụt, hôn mê...
Nếu xảy ra nhiễm độc cần sử dụng phương pháp giải độc:
- Lấy phượng vĩ thảo 100g, kim ngân hoa 100g, cam thảo 20g, sắc uống ngày 2 thang, mỗi thang chia 2 lần, cách nhau 4 giờ 1 lần uống.
- Nếu mạch chậm khó thở: dùng nhân sâm 10g, phụ tử 10g, ngũ vị tử
10g, cam thảo 10g. Sắc uống mỗi thang chia 2 lần, cách nhau 4 giờ uống 1 lần, cần uống 2 thang trong ngày.
- Nếu có hiện tượng dị ứng cần sử dụng thuốc kháng histamine, thuốc an thần, nặng dùng hydrocortisone...
BS. Hoàng Xuân Đại

Dùng rượu rết chữa bệnh: Có thể gây ngộ độc

 

Con rết được sử dụng làm thuốc từ rất lâu, với nhiều tên gọi khác nhau như: ngô công, thiên long, bạch túc trùng, bạch cước, là loài sống hoang trên mái nhà, dưới gầm tảng đá, hay các khúc gỗ mục nát... Theo kinh nghiệm trong dân gian ngâm rượu rết thường dược dùng để xoa bóp. Tuy nhiên vừa qua, một số người đã sử dụng rượu rết uống chữa bệnh gây nguy hiểm đến tính mạng.
Không được tự ý dùng rượu rết để uống.
Theo Y học cổ truyền rết có vị cay, tính ấm, có độc và đi vào kinh Can, tác dụng dược lý của rết là tức phong chỉ kinh (chống co giật), giải độc, tán kết, thông lạc, chỉ thống (cầm đau). Chủ trị các chứng kinh phong cấp hay mạn, phong đòn gánh, trúng phong, động kinh, sang độc, loa lịch ác sang, rắn độc cắn, đau đầu khó khỏi, phong thấp tý thống... Ngoài ra con rết còn dùng chữa các bệnh chữa sang trĩ đau nhức; mụn nhọt mới mọc rất tốt, nó có thể tiêu đi; trị vết sưng tấy; chữa liệt mặt; tê thấp; kinh phong; co giật...
Tuy nhiên, rết chứa protid, các loại axit amin; hai chất độc chiết được từ nọc rết dưới dạng histamin và albumin, có tính chất gần giống nọc ong, làm loãng máu; axit formic và cholesterol có thể gây tử vong. Như trường hợp vừa qua, anh Hải (TP. HCM) bị bệnh viêm khớp, nghe lời mách bảo, anh mua hai thang thuốc, trong thành phần có rết về uống. Sau một thời gian sử dụng anh thấy hoa mắt, khó thở, rơi vào tình trạng hôn mê, loạn nhịp tim. Anh Hải được đưa vào cấp cứu ở bệnh viện Thống Nhất, tại đây các bác sĩ cho biết nguyên nhân được xác định là ngộ độc, nghi ngờ do chất độc có trong con rết.
Con rết thường sống ở những nơi ẩm thấp.
Khi bị ngộ độc bệnh nhân có các biểu hiện nhẹ thì sốt, chóng mặt, buồn nôn, nặng hơn bệnh nhân có các triệu chứng nhiễm độc biểu hiện nôn, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, mỏi toàn thân, mạch chậm, hồi hộp, khó thở, thân nhiệt hạ, huyết áp tụt, hôn mê, nguy hiểm đến tính mạng... Vì vậy, muốn dùng các bài thuốc từ con rết cần phải thực hiện theo hướng dẫn của lương y, bác sĩ. Tuyệt đối là không đượctự sư dụng rượu rết để uống.
Bác sĩ Trần Thị Hải

Vị thuốc từ con rết

Từ lâu con rết hay còn gọi là thiên long (rồng trời), vì có nhiều chân nên còn có tên là bách cước, bách túc. Tên vị thuốc trong YHCT là ngô công, tên khoa học (Scolopendra morsitans L.). Ở nước ta, rết có ở hầu hết các vùng miền, thường sống ở những nơi có nhiều mùn hoặc trong các khe đất, khe đá, khe gỗ mục, mái nhà...

Cách chế biến rết làm thuốc

- Dùng ngoài, bắt các con rết có kích thước đủ lớn, cho vào chậu nước sạch khoảng 3 - 5 phút để rửa sạch mùn đất. Vớt ra cho vào một dụng cụ sạch, để một lúc cho ráo nước rồi cho vào một lọ thủy tinh đã có sẵn rượu cao độ (60 - 90% ethanol). Đậy nắp kín. Để nơi cao ráo. Sau một tháng, có thể dùng được.

- Dùng trong, cũng làm sạch theo cách trên, sau đó cho rết vào cái túi vải, buộc chặt đầu túi, ngâm vào nước sạch để giết rết. Đổ ra rổ cho ráo nước. Đem phơi khô hoặc sấy khô. Cần chú ý, khi sấy rết, nhiệt độ sấy phải bắt đầu từ nhiệt độ cao, khoảng 50oC để khỏi bị ôi thiu, sau đó nâng nhiệt độ lên dần cho đến khi khô hoàn toàn. Đối với rết làm thuốc, đặc biệt là rết đem xuất khẩu, cần tạo dáng cho vị thuốc bằng cách, trước khi sấy, người ta buộc rết vào một thanh tre dẹt mảnh để giữ cho thân thẳng, sau đó xếp đều vào các giàn sấy. Sấy đến khô.

- Trước khi dùng, người ta ngắt bỏ chân, đuôi và đầu rết, sao tới khi bên ngoài có mầu vàng, có mùi thơm, lấy ra, tán mịn để dùng dưới dạng bột, hoặc phối hợp bột rết với bột hay nước sắc của các vị thuốc khác. Liều từ 0,5 - 1g/ngày.


Dùng rết chữa bệnh như thế nào?

Theo YHCT, rết có vị cay, tính ấm, có độc, quy kinh can. Có tác dụng tắt phong, chỉ kinh (hết kinh giản) được dùng trong các bệnh:

- Động kinh, điên giản, uốn ván, co giật, còn dùng trị đau dây thần kinh ở mặt: bột rết, bột toàn yết (bọ cạp), chu sa (chế theo cách thủy phi), đồng lượng, trộn đều, uống với nước ấm, ngày 3 lần, mỗi lần 0, 5 - 1g bột, uống sau bữa ăn 1 giờ, với nước ấm. Cũng có thể dùng bột rết với bột cam thảo, đồng lượng. Uống như trên, hoặc dùng 1g bột rết uống với nước sắc của 20g phòng phong. Cách uống như trên.

- Trị viêm cột sống, dùng bột rết phối hợp với bột bọ cạp, đồng lượng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 - 3g, với nước ấm, sau ăn 1 giờ.

-Chữa viêm tinh hoàn: Bột rết và bột nhục quế, lượng bằng nhau, trộn đều. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 0,5 - 1g với nước ấm, sau bữa ăn 1 giờ.

- Chữa trĩ ngoại: Lấy bột rết 0,5g, bột long não 0,2g, thêm 5ml rượu trắng (25 - 30%) để hòa tan long não và làm thành dạng dịch nhão với bột rết. Dùng hỗn dịch này bôi vào các múi trĩ.

- Chữa mụn nhọt, sưng đau: Dùng cồn rết chế ở trên, lấy tăm bông, chấm vào cồn rết, rồi chấm lên mụn nhọt, ngày nhiều lần. Mụn sẽ hết sưng đau, và nhanh khỏi.

- Đối với mụn nhọt đã vỡ loét (tràng nhạc - lao hạch), dùng bột rết và bột lá chè xanh đã sấy khô, tán bột mịn, đồng lượng, trộn đều. Trước khi rắc hỗn hợp bột này, dùng nước sắc cam thảo rửa sạch vết loét.

Kiêng kị: không dùng cho phụ nữ có thai và những trường hợp táo nhiệt, háo khát.


BS. Phạm Xuân Sinh

Ai nên và không nên ăn trứng lộn?

Trứng vịt lộn hay trứng cút lộn đều chung một cách được chế biến từ quả trứng vịt hay trứng cút còn tốt. Đây là món ăn bình dân nhưng lại rất bổ dưỡng vì trong trứng vịt hay trứng cút đã được ấp nhân tạo để chuyển thành phôi rất giàu dinh dưỡng. Trong quá trình phát triển từ thành phôi đã có một số chất bị chuyển hóa, tiêu hao để biến đổi thành nhiều chất cần thiết giúp cho quá trình tăng trưởng của phôi mà tạo nên giá trị bổ dưỡng của loại trứng lộn dù là trứng vịt hay trứng cút.



Trứng vịt lộn
Đông y coi trứng lộn là “món ăn - bài thuốc bổ”. Chính vì vậy mà công năng, tính vị bài thuốc này được coi là phương thuốc có công hiệu tư âm, dưỡng huyết, ích trí, sáng mắt, giúp cơ thể mau trưởng thành. Trong trứng lộn có chứa vitamin A (retinol) và tiền vitamin A (beta caroten) khá cao. Bởi vậy, khi ăn vào cần có đủ lượng dầu mỡ để hòa tan (là vitamin tan trong dầu mỡ) thì cơ thể mới hấp thu được trọn vẹn. Do đó có thể ăn kèm với bánh lạc vừng (lạc luộc hay lạc rang cũng được) hoặc uống thêm sau ăn một chút dầu ăn lạc hay vừng. Chim cút còn được mệnh danh là sâm động vật nên trứng cút lộn cũng vô cùng bổ dưỡng.


Tuy là loại thức ăn bổ dưỡng nhưng không được lạm dụng vì mỗi khi ăn quá nhiều, cơ thể không dung nạp kịp, bị đào thải ra ngoài, thậm chí sinh tiêu chảy; mặt khác không phải ai cũng dùng được. Vì vậy trẻ em dưới 5 tuổi không nên ăn do sự chuyển hóa các chất của hệ thống tiêu hóa của trẻ chưa kiện toàn dễ gây sình bụng, tiêu chảy…

Đối với trẻ từ 5 - 12 tuổi, lúc đầu chỉ nên ăn nửa quả trứng vịt lộn hay 1 - 2 quả trứng cút lộn mỗi ngày. Một liệu trình là 15 ngày liền. Trứng lộn thích hợp cho trẻ nhỏ bị còi cọc, thể lực yếu… Có thể cho ăn thường xuyên mỗi ngày 1 quả trứng vịt lộn hay 5 quả trứng cút lộn (có khả năng cải thiện chiều cao cho trẻ vì trong trứng lộn chứa hàm lượng canxi cao). Còn công hiệu hơn cả khi sử dụng các loại thuốc bổ khác. Với trẻ từ 12 tuổi và người lớn có thể ăn 1 - 2 quả trứng vịt lộn hay 5 - 10 quả trứng cút lộn. Ăn trứng vịt lộn hay trứng cút lộn rất thích hợp với những người hay ốm yếu, cơ thể suy nhược, xanh xao thiếu máu… Thời gian ăn có thể kéo dài liên tục từ 60 - 90 ngày. Trong thời gian bồi bổ bằng trứng lộn, không nên hút thuốc lá, không uống rượu bia, năng tập thể dục đều đặn; Với trẻ trong độ tuổi học trò còn cải thiện đáng kể về trí nhớ và khả năng suy luận trong học tập, tiến bộ rõ rệt.

Chú ý: Những người tăng cholesterol máu (rối loạn chuyển hóa mỡ), bệnh rối loạn chuyển hóa đạm (gút), suy gan, thận… không nên ăn. Khi bồi dưỡng bằng trứng vịt hay trứng cút lộn cũng không ăn nhiều gan động vật hay uống vitamin A có hàm lượng từ trên 1.000UI vì trong 100g trứng lộn đã chứa tới 3.914 UI vitamin A, chưa kể đến lượng beta caroten (tiền vitamin A) chứa trong trứng lộn.


BS. Hoàng Xuân Đại

Lươn - Thực phẩm quý chữa nhiều bệnh

 
0

Lươn tính ôn, vị ngọt, có công hiệu bổ khí dưỡng huyết, làm mạnh gân cốt; thích hợp với các chứng lao lực, ho hen, tiêu khát, kiết lỵ, phong thấp đau nhức, gân cốt rã rời… Lươn chế biến ra được nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng và có tác dụng chữa bệnh. Xin giới thiệu một số món ăn có tác dụng chữa bệnh từ lươn.
Chữa tiêu chảy ở trẻ em (ngày đi đại tiện 5 – 6 lần, phân chua, hoặc thối khắm): Lươn 125g, kê nội kim 5g, hoài sơn 10g, gừng tươi 2 lát. Lươn làm sạch xào với gừng cho thơm, tưới ít rượu, cho nước vừa đủ rồi cho kê nội kim (màng mề gà) và hoài sơn vào. Dùng lửa lớn rồi hạ nhỏ đun một giờ, cho gia vị. Trẻ nhỏ uống phần nước.
Chữa khí huyết hư nhược sau khi sinh và bệnh lâu mới khỏi: Lươn 1 con (250 - 300g), kê nội kim 6g, hành, gừng, nước tương, muối, rượu vang, bột ngọt vừa đủ. Lươn làm thịt, bỏ nội tạng rửa sạch, cắt đoạn dài 6cm, kê nội kim rửa sạch, bỏ vào bát sứ cùng thịt lươn thêm hành, gừng, rượu, muối, nước tương dùng lửa lớn chưng chín, rắc bột ngọt vào trộn đều là được.
Chữa trẻ em suy dinh dưỡng (bụng ỏng, đít beo, phân sống, gầy còm, biếng ăn): Thịt lươn 300g, đương quy, đẳng sâm, gừng tươi mỗi thứ 15g, hành tây 25g, muối ăn vừa đủ. Lươn rửa sạch, thái sợi, đương quy và đẳng sâm cho vào túi vải, bỏ vào nồi cùng thịt lươn, đổ nước nấu trong 1 giờ, vớt bỏ túi thuốc, gia hành, gừng, muối, nấu thêm 1 giờ nữa là được. Ăn thịt lươn và nước.
Lươn om nấm, thịt, gừng, hành, tỏi bổ dưỡng cho người lao động trí óc.
Chữa khí huyết hư nhược, gân cốt rã rời, mỏi mệt vô lực: Lươn 250g, đẳng sâm 25g, đương quy 15g, gân bò 30g. Lươn bỏ ruột rửa sạch, chặt thành khúc, lấy một cái nồi đất sạch cho lươn, đẳng sâm, đương quy, gân bò vào, thêm lượng nước thích hợp đun lên, sau khi chín thì bỏ ra ăn.
Bổ thần kinh, bổ âm mát gan, thanh nhiệt trừ thấp, phòng chữa viêm gan: Lươn 2 con (mỗi con 300g), nhân trần 30g, râu ngô, lá dâu, đẳng sâm, táo nhân, huyền sâm, xa tiền tử mỗi vị 15g. Gia vị vừa đủ, sắc thuốc lấy nước. Làm lươn sạch chặt khúc 2cm, bỏ xương sống, khía, rửa qua nước muối, đổ nước thuốc, lươn, gia vị, nấu lửa nhỏ cho chín rồi ăn nóng.
Chữa lòi dom, trĩ, sa tử cung do khí hư: Lươn to một con, bỏ ruột, nấu với nước cùng 10g đẳng sâm cho nhừ để uống nước là chính. Nêm gia vị, có thể thêm gừng.
Tiểu tiện ra máu do âm hư hoả vượng: Lươn 250g bỏ ruột thái mỏng, mướp đắng 250g. Nấu với nước vừa dùng. Ngày chia ăn 2 lần.
Chữa suy nhược, thở dốc, dầu váng mắt hoa: Lươn 250g, thịt chó nạc 100g, hoàng kỳ 15g, đại táo 50g (bỏ hạt). Hầm chín để ăn.
Bổ trí não cho người lao động trí óc: Đầu lươn 75g, thịt ba chỉ quay 15g, lõi cải 15g, tỏi 5g, dầu ăn 25g, rượu 5g, mỡ gà 3g. Thịt thái lát, lõi cải thái. Rán qua đầu lươn, cho rượu, gia vị nấu đặc sánh rồi cho lõi cải, thịt đun lại cho sôi để ăn. Đầu lươn còn nấu om với thịt ba chỉ, chân gà, cánh vịt, nấm hương, tỏi gừng, thích hợp với người già khí huyết hư, lú lẫn.
Chữa bệnh đường huyết cao, trí nhớ giảm sút: Lươn sốt cà chua để ăn.
Phụ nữ viêm vú căng tức đau nhức: Da lươn đốt tồn tính, tán bột uống với rượu nhưng lưu ý phụ nữ có thai và đang cho con bú không nên dùng.
Sốt rét, thiếu máu: Lươn xào với rau sam.
Bồi dưỡng cho người già, trẻ em gầy yếu, sản phụ sau sinh: Vài con lươn to, mổ bụng bỏ ruột, rút chỉ máu dọc sống lưng: Dùng muối làm sạch ướp nước tương, gừng, xì dầu, ít rượu trắng. Chờ cơm sắp cạn trải đều lươn trên mặt cơm, hấp cho chín. Ăn nóng.
Lương y Hoài Vũ

Vị thuốc từ... đỉa


Cách đây khoảng 2000 năm, người ta đã biết dùng đỉa để trị bệnh. Và cũng phải vào khoảng thế kỷ XIX, “Liệu pháp đỉa” mới đưaợc hình thành ở châu Âu, nhất là ở các nước Pháp, Anh, Nga. Có nhiều loại: đỉa trâu, đỉa xanh lục, đỉa xám.
Ở mỗi con đỉa đều có hai cái giác, ở phía đầu có giác miệng, bên trong có 3 hàng hàm, mỗi hàm là một khối cơ, mang trên mép, có tới 300 chiếc răng nhỏ, còn giác phía đuôi, nhỏ hơn, là phương tiện dùng để đỉa có thể bám chắc vào các vật thể. Do đặc điểm cấu tạo của các giác ở miệng, vừa có một khối cơ rắn chắc, lại có nhiều răng nhỏ, đồng thời có một chất “gây tê” được tiết ra, khi cắn. Do vậy mà đỉa có thể hút máu của đối phương một cách dễ dàng, vì không gây ra một cảm giác đau đớn gì cả. Chỉ tới khi no căng mới tự rơi ra. Khi đó máu ở vết cắn vẫn tự do chảy tiếp với số lượng ngang bằng với lượng máu mà nó hút được, vì trong nước bọt của đỉa đã tiết ra một chất men có tác dụng làm máu không đông, đó là chất hirudin, bản chất là enzym hialuridase.

Dùng đỉa trị bệnh như thế nào?

Người ta lợi dụng tính chất hút máu của đỉa để chích máu trong những trường hợp viêm tấy ở mặt, miệng, những mụn nhọt đã mưng nhiều mủ… Và chính việc làm này đã hình thành ra một phương pháp chữa bệnh từ đỉa và gọi là “Liệu pháp đỉa”. Tuy nhiên liệu pháp này lại bộc lộ nhiều nguy cơ lây nhiễm một số bệnh cho người. Do đó, đã có một thời gian dài, liệu pháp đỉa đã không được trọng dụng nữa. Tuy vậy, trong vòng 25 năm trở lại đây, người ta đã tái sử dụng phương pháp này với các loại đỉa đã được chuẩn hóa “đỉa sạch”, có nghĩa là đỉa đã được tuyển chọn và nuôi dưỡng và bảo quản trong những điều kiện thích hợp, và được sử dụng cho việc hút máu ở những bộ phận cơ thể bị ứ huyết, hoặc các ổ áp xe của phủ tạng, hoặc khi cấy mô trong phẫu thuật tái tạo, hoặc gắn lại các bộ phận của cơ thể, các nơi nối ghép có những hoại tử…Ngoài ra, người ta còn dùng nước bọt của đỉa để sản xuất nhiều loại dược phẩm để điều trị các bệnh tim mạch, nhất là các bệnh huyết khối có nguy cơ gây đột quỵ, hoặc các bệnh thấp khớp, hen phế quản, tăng nhãn áp, bệnh phụ khoa…
Trong YHCT, đỉa được gọi với tên thuốc là thủy điệt, có vị mặn, đắng, tính bình, có độc. Quy kinh can, tác dụng phá huyết, trục ứ, thông kinh hoạt lạc.
Một số bài thuốc trị bệnh có dùng đỉa:
- Trị chứng bế kinh, huyết ứ hoặc sau đẻ, có nhiều cục máu đông thành khối, gây đau đớn: dùng đỉa đã chế biến tương đương với lượng của 30 con, đại hoàng 30g. Cả hai đều nghiền thành bột, mỗi ngày uống 5g.
- Chữa máu tụ sau sinh: đỉa đã chế biến, tương đương với một con, tán thành bột, uống với rượu nóng, trong một ngày.
- Trị sưng tấy, bầm tím cơ nhục do chấn thương: dùng mỗi ngày 3g bột đỉa, uống với rượu nóng.
- Trị trúng phong, tê dại: mỗi lần uống 3g bột đỉa với nước ấm.
- Trị sưng lá lách: đỉa đã chế biến, dùng lượng bột, tương đương với 1 con đỉa, đan sâm 3g. Dùng dưới dạng thuốc tán. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1-1,6g.
- Chữa tắc động mạch vành: đỉa 3g, rễ cây chè 30 g, kim tiền thảo 15g. Sắc uống, ngày một thang, uống một lần.
Chú ý, do đỉa có tính hoạt huyết rất mạnh (phá huyết), không dùng cho phụ nữ có thai và những trường hợp có nguy cơ xuất huyết: trĩ xuất huyết, chảy máu cam, đa kinh…
GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Bọ cạp làm thuốc

Từ lâu trong YHCT đã sử dụng con bọ cạp, hay còn gọi là toàn yết, toàn trùng, yết tử, yết vĩ để làm thuốc. Trên thực tế, người ta có thể thu lấy nọc độc từ bọ cạp bằng cách dùng xung điện kích thích cho tiết nọc, rồi thu lấy.

Nọc bọ cạp khá đắt và được dùng để làm thuốc giảm đau, xoa ngoài da, bắp cơ để trị các chứng đau dây thần kinh ngoại biên, dây thần kinh ở mặt hoặc đau cơ. Ở nước ngoài, người ta đã nuôi bọ cạp để lấy nọc phục vụ cho việc bào chế các loại thuốc nói trên. Về mặt khoa học, người ta đã chứng minh được tác dụng dược lý của bọ cạp, như tác dụng giải các cơn co giật và tác dụng đối kháng với tác dụng gây co giật của strycnin trên thực nghiệm. Bọ cạp được phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay cả ở các vùng sa mạc có khí hậu khắc nghiệt, bọ cạp vẫn có thể sống được. Ở nước ta, bọ cạp hầu như có ở khắp nơi, từ miền núi đến đồng bằng đều có thể phát hiện thấy bọ cạp. Ở miền núi, chúng thường sống trong các khu rừng ẩm ướt, nhất là trong các khe đất, đá ở hai bên bờ suối hoặc dưới các lớp lá mục trong rừng.

Bọ cạp.

Cách chế biến bọ cạp?


Vào mùa xuân hoặc mùa hạ, người ta bắt bọ cạp, trước hết đem thả vào nước sạch, quấy nhẹ để rửa cho sạch đất cát. Vớt ra để ráo nước, sau đó dùng một dụng cụ để đun dung dịch muối ăn, với tỷ lệ 1kg bọ cạp dùng 300 - 500g muối ăn. Trước hết, đem muối ăn hòa trong khoảng 3 lít nước sạch, đun cho tan hết muối. Bỏ bọ cạp vào, đậy vung và tiếp tục đun sôi trong vài giờ. Vớt ra, phơi âm can (phơi trong bóng râm) đến khi khô hoàn toàn. Bảo quản trong các vại sành hoặc các lọ thủy tinh khô, đậy kín, để nơi khô ráo, tránh ánh sáng. Trước khi dùng, đem bọ cạp ngâm vào nước sạch, rửa cho hết muối, bằng cách quấy đảo và thay nước vài lần. Vớt ra để khô ráo, rồi ngắt bỏ đầu, chân, đuôi, rút ruột, sao khô là có thể sử dụng được.

Theo YHCT, bọ cạp có vị cay, tính bình, có độc. Quy kinh can, có công năng tắt phong, định kinh, công độc, tán kết, thông lạc, chỉ thống. Dùng trị các chứng kinh phong cấp mạn tính, uốn ván, co giật, trúng phong. Liều dùng chung từ 2,5 - 5g.

Trị trường hợp trẻ em lên cơn co giật. Có thể dùng một số bài thuốc sau:

Bài 1: Bọ cạp sao vàng 12g (đã chế biến), răng lợn (đốt cháy) 12g, kinh giới 40g, câu đằng 12g, thuyền thoái 8g, phèn phi 8g. Tất cả nghiền thành bột mịn, làm hoàn nhỏ. Uống theo lứa tuổi. Trẻ em 5 - 6 tháng tuổi mỗi lần uống 2 viên; 1 tuổi mỗi lần 3 viên; 2 tuổi 5 viên, ngày 2 - 3 lần uống với nước trúc lịch (nước vắt ra từ vòi măng tre, sau khi hơ nóng).

Bài 2: Bọ cạp 12g, thạch xương bồ 8g, thiên ma 12g, đởm nam tinh 12g, bạch cương tằm 12g, bạch phục linh 12g, phục thần 12g, bán hạ chế 12g, viễn chí 12g, mạch môn 12g, bối mẫu 6g, hổ phách 6g, trần bì 6g, đẳng sâm 16g. Nghiền bột mịn, trộn đều với trúc lịch và nước sắc cam thảo, gừng, làm hoàn nhỏ. Ngày uống 2 lần mỗi lần 20 viên. Uống trước khi lên cơn co giật.

Bài 3: Bọ cạp một con, bạch cương tằm 8g, địa long (giun đất đã chế biến) 6g. Sắc uống, ngày một thang.

Chữa trúng phong:

Bài 1: Bọ cạp 10g, địa long 10g, xích thược 20g, ngưu tất 20g, hoa hồng 15g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Bọ cạp 2,5g, bạch phụ tử 8g, bạch cương tằm 8g. Dùng dưới dạng bột.

Mụn nhọt sưng thũng: Bọ cạp, chi tử đồng lượng, tán bột mịn, hòa với dầu vừng, bôi vào chỗ sưng đau.

Chú ý: Do có tính độc, không dùng bọ cạp cho phụ nữ có thai.

Cần phân biệt vị thuốc bọ cạp này với một vị thuốc cũng có tên bọ cạp nước. Bọ cạp nước (Cassia fistula L., họ Vang Caesalpiniaceae), còn gọi là muồng bọ cạp, là cây thuốc phổ biến ở vùng Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai… Người ta thường dùng các bộ phận quả, hạt, rễ và vỏ cây để làm thuốc nhuận tràng, vì chúng chứa các thành phần anthranoid như rhein.


Bọ cạp còn gọi là toàn yết, yết tử, toàn trùng, yết vĩ. Theo Đông y, bọ cạp vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc; vào kinh can. Có tác dụng tức phong, cắt cơn kinh giật; hoạt lạc (lưu thông gân, mạch) và giải độc.
Một số bài thuốc trị bệnh có bọ cạp:
Tức phong, cắt cơn kinh giật: Dùng cho các chứng bệnh lên kinh giật, co quắp do bị trúng phong, sài uốn ván; động kinh thuộc chứng thực.

Bọ cạp
- Thuốc bột toát phong: Bọ cạp 4g, chu sa 4g, rết 6g, xạ hương 2g, câu đằng 16g, tằm vôi 8g. Tán thành bột. Mỗi lần uống 4g, ngày 2 - 3 lần, uống với nước đun sôi. Trị động kinh và sài giật uốn ván.
- Bọ cạp 4g, tằm vôi 12g, bạch phụ tử 12g. Nghiền chung thành bột mịn. Mỗi lần uống 4g, ngày 2 - 3 lần, uống với rượu trắng. Trị trúng phong mắt miệng méo sệch.
- Bọ cạp 1 con, rết 1 con, thấu cốt thảo 15g. Tất cả sao vàng tán bột. Cách 6 giờ uống 7 – 8g. Chữa trúng phong.
- Bọ cạp 10g, giun đất 15g, xích thược 20g, ngưu tất 20g, hồng hoa 15g. Sắc uống trong ngày. Chữa trúng phong.
- Bọ cạp tồn tính 15g, bạch cương tằm 15g, phụ tử 15g. Tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội. Trị tê liệt thần kinh mặt.
- Bọ cạp 1 con, giun đất 8g, tằm vôi 12g. Sắc uống. Trị trẻ kinh quyết.
- Bọ cạp sao giòn 12g, răng lợn đốt cháy 12g, kinh giới 40g, câu đằng 12g, thuyền thoái 8g, phèn phi 8g. Tán nhỏ mịn, luyện với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Trẻ em 5 - 6 tháng tuổi, mỗi lần uống 2 viên; 1 tuổi uống 3 viên; 2 năm tuổi uống 5 viên. Nghiền thuốc với nước ép của cây tre non nướng. Ngày 2 - 3 lần. Chữa trẻ lên cơn kinh giật, nghiến răng, trợn mắt.
Hoạt lạc giảm đau: Trị các chứng phong thấp, đau cứng khớp xương.
- Bọ cạp 4g, xạ hương 0,8g. Nghiền chung thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần uống 2g, uống với rượu hâm nóng. Cũng có thể dùng riêng bọ cạp nghiền bột, mỗi lần uống 2g với rượu.
- Thuốc bột bọ cạp nhũ hương: Xuyên ô đầu chế 12g, mã lan tử 8g, bọ cạp 4g, vẩy tê tê 8g, nhũ hương 6g, thương truật 12g. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần với nước đun sôi. Cũng có thể sắc uống hoặc làm cao dán ngoài da.
Kiêng kỵ: Người bị kinh giật do huyết hư, phụ nữ có thai và người yếu mệt háo khát thì cấm uống.
Lưu ý: Khi chế biến bọ cạp phải bỏ nọc độc ở đuôi vì nó gây tê liệt các bộ phận của cơ thể người và gia súc.
TS. Nguyễn Đức Quang

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

bài thuốc từ cá chạch

Cá chạch còn có tên khác là chạch đồng, chạch bùn, là loài cá nước ngọt sống ở các các ao, hồ, sông, suối. Thân tròn, dẹt hai bên, nhất là gần đuôi, dài khoảng 15cm. Đầu nhỏ, hơi tròn, mắt bé, miệng thấp có râu. Da mỏng, dưới da có nhiều tuyến tiết chất nhờn, nên rất trơn nhẵn. Vảy nhỏ, lẫn sâu dưới da nên khó thấy. Vây lưng không có gai cứng, vây ngực và vây bụng ngắn, vây đuôi rộng. Cá có màu vàng, nâu hoặc xám đen. Lưng sẫm hơn bụng. Trên thân có nhiều chấm, mỗi chấm do rất nhiều chấm nhỏ hợp thành. Ở gốc vây đuôi, có một chấm to màu đen, trên vây có nhiều sọc đen.

Theo y học cổ truyền, cá chạch với tên thuốc là thu ngư, có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ khí huyết, tráng dương, thanh nhiệt, tiêu khát, chữa nóng trong,….

Cá chạch.

Những món ăn được chế biến từ cá chạch rất ngon, bổ dưỡng và có tác dụng chữa một số bệnh như sau:



Thanh nhiệt giải độc, chữa mẩn ngứa: Cá chạch 30g, đại táo 15g, gia vị vừa đủ, nấu canh ăn ngày một lần. Ăn 7- 10 ngày.

Chữa suy nhược, thiếu máu, suy dinh dưỡng ở trẻ: Cá chạch 250g, thịt lợn nạc 50g, lạc nhân 100g, gừng 5g, hạt tiêu xay 5g, nước 200 ml. Cách làm: Cá chạch rán qua, cho nước, thịt, gừng đun to lửa 10 phút rồi hầm nhừ thịt đến khi nước còn 100ml. Cho thêm gia vị là ăn được. Ăn ngày 1 lần. Ăn trong 1 tuần. Nghỉ 1 tuần lại tiếp tục. Dùng trong 3 tháng

Hoặc: Cá chạch 120g rán vàng, hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g. Tất cả đem sắc kỹ, lấy nước bỏ bã, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng bổ tỳ vị, bổ huyết, dùng thích hợp cho những người suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng...

Chữa vàng da do viêm gan: Cá chạch 250g, đậu phụ 500g. Cá chạch làm sạch bỏ đầu đuôi, đậu phụ xắt miếng đem nấu chín rồi cho cá chạch vào, đun sôi một lát là được, chế thêm hành, gừng tươi và gia vị, dùng làm canh ăn. Công dụng bổ tỳ vị, trừ thấp, dùng thích hợp cho người bị viêm gan vàng da, tiểu tiện không thông.

Hỗ trợ điều trị viêm gan mạn tính: Cá chạch 150g (mổ bỏ ruột, xương) thái mỏng. Mộc nhĩ đen 2,5 g, rau kim châm 15g. Tất cả nấu chín. Ăn nóng chia 2 lần trong ngày.

Tăng cường sức khỏe và khả năng tình dục: Cá chạch 500g, lạc nhân 100g, gạo tẻ 300g, dầu ăn, muối, xì dầu, đường, hành, rau thơm… vừa đủ. Cách làm: Đãi sạch gạo, cho thêm ít muối vào rồi trộn đều. Đun nước sôi, cho gạo vào nấu cháo. Mổ chạch, lọc bỏ xương sống, rửa sạch, để khô rồi cho dầu lạc, muối, xì dầu và đường vào đảo đều. Khi cháo sắp được, cho chạch vào nấu chín là được. Khi ăn cho thêm hành và rau thơm. Ăn thường xuyên món này có tác dụng rất tốt cho những người sức khỏe yếu, yếu sinh lý…

Chữa mồ hôi trộm ở trẻ em: Cá chạch 100g, gạo 50g, dầu ăn, gia vị vừa đủ. Cách làm: Cá chạch làm sạch, bỏ đầu, nội tạng, đuôi, đem hấp cách thủy cho chín, gỡ lấy thịt, ướp bột gia vị, xào với dầu ăn. Xương cá chạch giã nhỏ lọc lấy 200ml nước. Gạo xay thành bột cho vào nước lọc xương chạch quấy đều đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho thịt chạch và gia vị vào đảo đều. Cháo sôi lại là được. Ăn một lần trong ngày lúc đói. Ăn liền 5 ngày.  Chữa suy nhược cơ thể bằng cá trạch

Trạch là loài cá đồng rất dễ chế biến, thông thường khi bắt về được làm sạch nhớt, có thể rán hoặc kho tuỳ ý. Theo quan niệm của y học cổ truyền, cá trạch có vị ngọt, tính bình, có công dụng bồi bổ tỳ vị, dưỡng thận, trừ thấp, làm hết vàng da, cầm đi lỏng và có lợi cho dương sự. Các sách thuốc cổ như Bản thảo cương mục, Tùy tức cư ẩm thực phổ, Trấn nam bản thảo, Y học nhập môn, Thánh tễ tổng lục... đều nói rất kỹ về công dụng của cá trạch. Người xưa thường dùng trạch để chữa các chứng bệnh như tiêu khát (đái tháo đường), dương nuy (liệt dương), trĩ, viêm gan, mụn nhọt, lở loét ngoài da.
Sau đây là những bài thuốc được dùng:
- Chữa đái tháo đường: Cá trạch phơi khô đốt thành than để chữa bệnh đái tháo đường cách chế biến như sau: lấy 10 con cá trạch bỏ đầu đuôi, làm sạch phơi khô, đem đốt thành than tán bột. Lá sen tươi cũng đem phơi khô tán bột. Khi dùng lấy hai thứ với lượng bằng nhau, trộn đều, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 2 thìa nhỏ.

- Chữa suy nhược cơ thể: Bài thuốc này có công dụng bổ tì vị, bổ huyết, dùng thích hợp cho những người suy nhược cơ thể, gầy yếu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng... Cá trạch 120g , đem rán vàng, các vị thuốc gồm: hoàng kỳ 15g, đảng sâm 15g, hoài sơn 30g, đại táo 15g, gừng tươi 5g. Tất cả đem nấu kỹ, lấy nước, bỏ bã, chia dùng vài lần trong ngày.
- Dùng cho người viêm gan tiểu tiện không thông: Món này giúp bổ tỳ vị, trừ thấp, dùng thích hợp cho người bị viêm gan, vàng da, tiểu tiện không thông. Cá trạch, 250g, 0,5kg đậu phụ. Cá trạch làm sạch, bỏ đầu đuôi, đậu xắt miếng đem nấu chín rồi cho cá trạch vào, đun sôi một lát là được, thêm hành, gừng tươi và gia vị, dùng làm canh ăn.
- Dùng cho người liệt dương: Cá trạch 250g , cùng mỡ lợn, hạt tiêu và gia vị vừa đủ. Tất cả đem nấu dạng canh để dùng. Có thể cho thêm tôm sống tươi 30g và một chút rượu vang. Dùng liên tục món này trong nửa tháng sẽ giúp bổ thận, trợ dương, có lợi cho dương sự, dùng thích hợp cho người bị liệt dương, suy giảm khả năng tình dục

Bác sĩ Thu Vân

Con thằn lằn làm thuốc

Thạch sùng làm thuốc
0

Thạch sùng sống khắp nơi ở nước ta và là loại sinh vật quen thuộc với mọi người. Tùy từng vùng mà có nơi gọi là con thằn lằn, hay thủ cung, thiên long, bích hổ, hát hổ. Thạch sùng dùng làm thuốc và được ghi đầu tiên trong sách Bản thảo kinh tập chú. Có nhiều loại thạch sùng, có tên khoa học là Hemidactylus Frenatus Schleghel đều thuộc loại tắc kè (Gekkonnidae).
Đông y cũng cho rằng thạch sùng vị mặn, tính hàn, có ít độc, có tác dụng bổ phế thận, ích tinh huyết, chỉ khái định suyễn, khứ phong hoạt lạc, tán kết giải độc, chỉ thống, trấn tĩnh giản kính (an thần, chống co giật), khu phong, định kinh nên có thể chủ trị các chứng như phong tê liệt (liệt nửa người do tai biến mạch máu não), kinh phong ở trẻ em, suy dinh dưỡng trẻ em, tràng nhạc (lao hạch) và hen suyễn...
Trên lâm sàng, các nhà y học Trung Quốc còn cho biết họ đã dùng thạch sùng để chữa suy nhược thần kinh, lao hạch, cốt tuỷ viêm, ung thư thực quản, ung thư dạ dày...
Để tham khảo, dưới đây xin nêu một số cách trị liệu từ con thạch sùng
Chữa lao hạch và hen suyễn: dùng thạch sùng cho vào chuối hoặc bọc trong lá khoai lang đã hơ nóng cho mềm để dễ nuốt hay dùng thạch sùng sấy khô, tán thành bột mỗi ngày uống nửa phân với rượu; cũng có thể dùng thạch sùng 2 con, hạ khô thảo 6g sấy khô tán bột chia uống 2 lần trong ngày với rượu vàng kết hợp với dùng thạch sùng sao tồn tính, tán lấy bột hoà với dầu vừng bôi lên hạch bị tổn thương.
Trị ung sang đau nhiều: Dùng bột thạch sùng trộn với dầu vừng bôi lên tổn thương.
Chữa co giật do tâm hư: Dùng thạch sùng sao vàng 1 con tán bột trộn với một chút chu sa và xạ hương uống với nước sắc lá bạc hà.
Chứng tay chân liệt bại, đau nhiều: dùng ngự mễ xác sao mật 1 tiền, trần bì 5 tiền, thạch sùng sao vàng, nhũ hương, một dược và cam thảo mỗi vị 2 tiền 5 phân, tất cả tán thành bột, uống mỗi ngày 3 tiền; hoặc dùng thạch sùng 2 con, địa long 15g, toàn yết (bọ cạp) 9g, ngưu tất 25g, tất cả sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g.
Chữa co giật mạn tính do tâm hư (kinh phong): Dùng thạch sùng màu vàng 1 con sấy khô, tán bột uống với nước sắc bạc hà cùng một chút chu sa và xạ hương, kết hợp uống đơn sắc Nhị trần thang.
Chữa viêm đa khớp dạng thấp: Dùng thạch sùng 10g, ngô công 10g, bạch chỉ 20g, tất cả đem sấy khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 4g.
Trị nấm da: dùng thạch sùng 5 con và ngô công (con rết) 5 con đem ngâm với rượu nặng lấy dịch chiết bôi lên tổn thương.
Trị cước khí (thấp chẩn): dùng thạch sùng 2 con đem ngâm với 200ml cồn 90%, sau 10 ngày thì dùng được, lấy dịch chiết bôi vào tổn thương...
BS. Hoàng Xuân Đại

Sò huyết tráng dương



Trong con sò huyết có nguồn chất đạm phong phú, chứa nhiều khoáng chất có giá trị dinh dưỡng cao như magiê và kẽm, hai chất này giúp tăng cường sức dẻo dai cho cơ thể. Xin giới thiệu một số món ăn từ sò huyết có tác dụng tráng dương, giúp quý ông, quý bà thêm “sung sức”.
Cháo sò huyết, trứng muối: gạo tẻ ngon 200g, sò huyết tươi 500g, trứng vịt muối 1 quả, gừng, gia vị, hành, hạt tiêu đủ dùng. Sò huyết rửa sạch bùn đất, đun sôi nước rồi thả vào, ngâm 5 phút vớt ra, cạy lấy thịt. Sau đó ướp sò huyết với dầu, hành, gia vị. Gạo tẻ thơm nấu nhừ thành cháo. Khi cháo chín cho trứng muối vào khuấy đều, đổ sò huyết vào nấu sôi là dùng được.
Sò huyết xào nui: nui 100g, sò huyết 100g, cà chua, nấm rơm, hành tây, gia vị đủ dùng. Nui luộc chín tới, ngâm nước lạnh, vớt ra trộn với 1 ít dầu ăn cho nui đỡ dính. Thịt sò huyết sốt cùng với cà chua, tỏi. Hành tây, cà chua, nấm rơm thái nhỏ. Phi thơm tỏi rồi đổ các thứ trên vào đun nhỏ lửa, cho thêm nước đến khi hỗn hợp hơi sệt thì cho sò huyết vào đảo cùng. Nên ăn món này lúc nóng.
Sò huyết xào nui.
Sò huyết sốt me: sò huyết 1kg, me chín 50g, đường, muối, tỏi, gia vị vừa đủ. Sò huyết rửa sạch, để ráo nước. Me chín cho vào đun với nước, bỏ hạt. Phi thơm tỏi rồi cho nước me, gia vị quấy đều, đun khoảng 5 phút. Thịt sò đã hấp, phi hành tỏi, xào to lửa rồi đổ nước sốt có me vào đun khoảng 5 phút là được.
Chữa kinh nguyệt ra nhiều: lấy thịt sò huyết 100g nấu với thịt lợn 50g, ăn trước khi hành kinh.
Bổ dưỡng, thanh nhiệt chữa cơ thể suy nhược, lao phổi: thịt sò huyết 100g, nấu chín hoặc phối hợp với lá hẹ 100g, ninh nhừ, ăn làm 2 lần trong ngày

Sò huyết bổ ngũ tạng

Sò huyết là món ăn có hương vị hấp dẫn được ưa chuộng, có giá trị dinh dưỡng cao. Trong Đông y, thịt sò và vỏ sò còn được dùng làm thuốc chữa nhiều bệnh. Thịt sò huyết có vị ngọt, mặn, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ huyết, kiện vị, chữa chứng huyết hư, thiếu máu, kiết lỵ ra máu mũi, viêm loét dạ dày - tá tràng, tiêu hóa kém.



Sò huyết.
Một số cách dùng sò huyết làm thuốc:


Bồi dưỡng cơ thể suy nhược, lao phổi, thanh nhiệt: thịt sò huyết 100g, lá hẹ 100g. Tất cả ninh nhừ, ăn 2 lần trong ngày.

Tăng huyết áp, bệnh béo phì: thịt sò huyết 100g, thảo quyết minh 100g, nước vừa đủ nấu chín, ăn trong ngày.

Kinh nguyệt ra quá nhiều: thịt sò huyết 100g nấu với thịt lợn 100g. Ăn trước khi hành kinh.

Dạ dày ợ chua, tiêu tích, hóa đàm: uống bột vỏ sò 12 - 20g với nước ấm, ngày uống 2 lần trước bữa cơm.

Đại tiện ra máu: ngày dùng bột vỏ sò 2 lần, mỗi lần 15g, uống với nước ấm.

Cam răng (viêm lợi): uống bột vỏ sò ngày 3 lần sáng, trưa, tối, mỗi lần 1 thìa cà phê.

Chữa tụ máu, bầm tím do té ngã, bị đánh: ngày dùng bột vỏ sò 2 lần: sáng tối, uống mỗi lần 1 thìa canh với nước ấm, có thể hòa ít rượu trắng uống giúp thuốc chuyển vận nhanh.

Cách làm bột vỏ sò: vỏ sò đã lấy hết thịt, rửa sạch, đập vụn cho vào nồi đất trát kín, nung đến khi đỏ hồng. Lấy ra để nguội, tán nhỏ, rây bột mịn, hoặc nhúng ngay vỏ sò đang hồng vào dấm với tỷ lệ: 1kg vỏ sò với 100ml dấm rồi mới tán bột mịn.
Sò huyết bổ máu, tăng sức dẻo dai

Sò huyết không chỉ là hải sản ngon, bổ mà nó còn là đặc sản dành riêng cho những cặp vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật vì tính chất đặc biệt "đại bổ" của nó. Theo y học cổ truyền, sò huyết có vị ngọt, tính mặn, có tác dụng bổ huyết, kiện vị, chữa chứng huyết hư, thiếu máu. Trong con sò huyết có nguồn chất đạm phong phú, chứa nhiều khoáng chất có giá trị dinh dưỡng cao như magne và kẽm, hai chất này giúp tăng cường sức chịu đựng dẻo dai cho cơ thể. Trong 100g sò huyết có các thành phần chính: 81,3g moisture; 11,7g protein; 1,2g lipid; các chất khoáng; các loại vitamin A, B1, B2, C; giá trị năng lượng 71,2 Kcal.

Cách chọn và chế biến sò huyết: nên chọn sò huyết tươi, sống. Người ta thường dùng thịt sò huyết để chế biến các món ăn. Rửa sạch sò, đun sôi nước, tắt bếp rồi đổ sò vào, đậy kín vung trong 5 phút là có thể dùng được.
Các món ăn:
Cháo sò huyết, trứng muối: gạo tẻ ngon 200g, sò huyết tươi 500g, trứng vịt muối 1 quả, gừng, gia vị, hành, hạt tiêu đủ dùng. Sò huyết rửa sạch bùn đất, đun sôi nước rồi thả vào, ngâm 5 phút vớt ra, cạy lấy thịt. Sau đó ướp sò huyết với dầu, hành gia vị. Gạo tẻ thơm nấu nhừ thành cháo. Khi cháo chín cho trứng muối vào khuấy đều, đổ sò huyết vào nấu sôi là dùng được.
Sò huyết xào nui: nui 100g, sò huyết 100g, cà chua, nấm rơm, hành tây, gia vị đủ dùng. Nui luộc chín tới, ngâm nước lạnh, vớt ra trộn với 1 ít dầu ăn cho nui đỡ dính. Thịt sò huyết sốt cùng với cà chua, tỏi. Hành tây, cà chua, nấm rơm thái nhỏ. Phi thơm tỏi rồi đổ tất cả các thứ trên đun nhỏ lửa, cho thêm nước đến khi hỗn hợp hơi sệt thì cho sò huyết vào đảo cùng. Nên ăn món này lúc nóng.
Sò huyết sốt me: 1kg sò huyết, 50g me chín, đường, muối, tỏi, gia vị vừa đủ. Sò huyết rửa sạch, để ráo nước. Me chín cho vào đun với nước, bỏ hạt. Phi thơm tỏi rồi cho nước me, gia vị quấy đều, đun khoảng 5 phút. Thịt sò đã hấp, phi hành tỏi, xào to lửa, rồi đổ nước sốt có me vào đun khoảng 5 phút là được.



Lương y Minh Chánh




Thuốc từ con nhện

Nhện (nhện nhà) là loài ăn côn trùng không cánh, phân bố ở khắp nơi trong cả nước.

Trong y học cổ truyền, toàn thân nhện được dùng với tên thuốc là bích tiền hay tri thù (không dùng nhện hoang ở rừng núi, vách đá). Bao trứng nhện hay tổ nhện là bích tiền mạc, xác nhện (tri thù xác), màng tơ nhện hay mạng nhện (tri thù ty hay tri thù võng) cũng được dùng làm thuốc.Dược liệu có vị mặn, nhạt hơi đắng, tính mát có tác dụng chống viêm, giảm đau nhức, trừ phong nhiệt, tiêu thũng, chỉ huyết, lợi tiểu, giải độc.

Theo kinh nghiệm dân gian, nhện được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa đinh râu, mụn nhọt chóng mưng, vỡ mủ và mau khỏi: nhện 1 con để sống, ngắt bỏ chân, nghiền nát với ít giấm, dùng riêng hoặc phối hợp với 1 củ hành tươi, giã nát, đắp băng. Ngày một lần. Có thể chỉ lấy nhện sống ấn vào mụn nhọt cũng được.





Chữa hôi nách:



nhện 1-2 con, bọc bằng đất nhão, đem nung đỏ khoảng nửa giờ. Để nguội, đập đất, lấy nhện, tán nhỏ, trộn thật đều với khinh phấn 5g, đã tán mịn, rồi xát vào nách sau khi đã vệ sinh sạch sẽ và lau khô. Ngày làm 2 lần.

Chữa đái dầm, mồ hôi trộm, cam tích, chậm biết đi ở trẻ nhỏ, mụn nhọt: nhện 1-2 con (được nhện đang ôm trứng càng tốt) hoặc bao trứng nhện 1-2 cái (còn nguyên trứng hoặc đã nở con) sao hoặc nướng vàng, tán bột, uống làm hai lần trong ngày.

Chữa đầy hơi, trướng bụng ở trẻ em: Nhện to 1 con hoặc xác nhện 2-3 cái nướng vàng, dùng riêng hoặc phối hợp với tổ tò vò một nắm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa sâu răng: xác nhện đem sấy khô hoặc nướng vàng, tán nhỏ, xát vào chỗ sưng đau.

TTƯT.DSCK II. ĐỖ HUY BÍCH

Thịt ngỗng bổ thận tráng dương

Theo Đông y thịt ngỗng vị ngọt, tính bình, đi vào phế kinh và thận kinh, có công hiệu tư âm bổ thận, ích khí hòa vị, sinh tân chỉ khát, có thể dùng để điều trị các chứng bệnh trung khí bất túc, người gầy yếu, mệt mỏi rã rời, kinh nguyệt không điều hòa, liệt dương, xuất tinh sớm.

Thịt ngỗng trắng hầm với đông trùng hạ thảo: bổ thận cố tinh, liệt dương, xuất tinh sớm: ngỗng trắng 1 con, đông trùng hạ thảo 10g, các gia vị hành, gừng, muối, rượu, mỗi thứ lượng vừa đủ. Ngỗng mổ thịt, moi bỏ nội tạng, chỉ lấy thịt dùng vào món ăn này, rửa sạch, nhúng qua vào nước sôi, để ráo nước, chặt thịt miếng vừa ăn, rửa sạch đông trùng hạ thảo để chuẩn bị dùng. Cho thịt ngỗng vào nồi sành, đồng thời cho các gia vị trên vào, cùng với chút nước, nấu to lửa cho sôi xong để nhỏ lửa nấu tiếp 3 giờ. Ănn cả nước lẫn cái với các loại rau ghém.



Thịt ngỗng hầm.
Thịt ngỗng trắng ninh với câu khởi tử và quả dâu: tư âm giáng hỏa, dưỡng huyết bổ huyết, làm chắc thận, bồi bổ tinh tủy: ngỗng trắng 1 con, cẩu khởi tử 50g, quả dâu 50g, các gia vị gừng, hành, muối gia vị, rượu, mỗi thứ lượng vừa đủ. Làm thịt ngỗng, moi bỏ nội tạng, rửa thật sạch, rửa sạch cẩu khởi tử và quả dâu, chặt thịt ra thành miếng vuông khoảng 3cm, cho vào nồi sành cùng với các gia vị. Đem ninh nhừ thịt là được. Ăn với rau ghém.


Thịt ngỗng trắng nấu với khoai môn: xuất tinh sớm, liệt dương, công năng tình dục giảm thấp, chứng vô sinh: ngỗng trắng 1 con, khoai môn 500g, hành 3 củ, ớt đỏ 1 quả. Các gia vị chao đậu, sữa, bột gừng, bột tỏi, đường, rượu, xì dầu, bột sống, dầu vừng, mẫu lệ khô (vỏ con hàu khô), dầu trà, bột hạt tiêu, mỗi thứ lượng vừa đủ. Làm thịt ngỗng, moi ruột, rửa thật sạch, láng muối đều trong bụng ngỗng, sau khi trộn đều cho đậu, sữa, bột gừng, đường, rượu, xì dầu rồi nhét trong bụng ngỗng, đem khâu lại, cho vào trong bát. Đem cạo sạch và rửa khoai môn, thái ra, đem rán, khi chín cho vào trong bát thịt ngỗng, bỏ bát thịt đó vào hấp trong khoảng 90 phút. Trước hết lấy khoai môn ra, để thịt ngỗng lại hấp tiếp 30 phút nữa, láng đều xì dầu lên thịt, cho 1 thìa dầu trà vào, đổ nước hấp lấy khoảng 2 cốc. Sau khi đun sôi, đổ tiếp mẫu lệ khô, xì dầu, bột sống, bột gừng, bột hồ tiêu vào khuấy trộn đều. Khi ăn lấy lượng thịt ngỗng và khoai môn vừa phải cho vào nấu trong nồi với chút nước, khi sôi cho nước sốt vào nấu sôi là được.

Cháo thịt ngỗng phục linh: liệt dương, xuất tinh sớm, kinh nguyệt không điều hòa, lãnh đạm tình dục: thịt ngỗng quay 100g, phục linh 20g, nấm hương đã ngâm nở 25g, chân giò hun khói đã chín 15g, nước luộc thịt ngỗng 1.000g, gạo nếp 100g. Các gia vị gừng sống, bột hành, rượu, muối gia vị, dầu vừng, bột hồ tiêu, mỗi thứ lượng vừa đủ: thịt ngỗng thái nhỏ, phục linh nghiền thành bột, nấm hương thái nhỏ, thịt chân giò hun khói cũng thái nhỏ. Gạo nếp đem vo sạch để ráo nước, cho vào trong nồi sành, đổ nước luộc thịt ngỗng vào khi cháo chín cho thịt ngỗng, nấm hương, chân giò hun khói và các gia vị trên vào nấu thành cháo, lại tưới dầu vừng vào, rắc bột hạt tiêu lên là được, mỗi lần ăn 1 bát, chia ra mấy lần ăn hết trong ngày.

Ngỗng chữa suy nhược cơ thể


0

Ngỗng còn gọi là nga nhục, là loại thủy cầm được nuôi rất nhiều ở nước ta. Từ thịt ngỗng chế biến nhiều món ăn ngon như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp... mỗi món có hương vị riêng và hấp dẫn. Thành phần dinh dưỡng: có protein, lipid, các hợp chất carbon, nguyên tố Ca, P, Fe, vitamin C. Các bộ phận của ngỗng như thịt ngỗng, mật, trứng, lông, tiết ngỗng đều được dùng làm thuốc trong Đông y.
Theo Đông y, thịt ngỗng kiện tỳ hoà vị bổ hư, chỉ khát. Dùng cho các trường hợp gầy còm, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, tiểu đường. Mật ngỗng thanh nhiệt giải độc; trứng ngỗng bổ trung ích khí; lông và màng da chữa bệnh ngoài da, vỏ trứng trị mụn nhọt…


Thịt ngỗng hầm hoàng kỳ, đẳng sâm tốt cho người tỳ vị hư nhược, kém ăn, mệt mỏi.
Các bài thuốc có dùng ngỗng

- Trị ung nhọt: lông ngỗng sao cháy 40g, phèn chua 80g. Nghiền nhỏ, dùng nước cơm làm thành viên. Mỗi lần 8g, uống với nước có cồn (rượu loãng). Hoặc lông ngỗng sao tồn tính 40g, hùng hoàng 12g, xuyên ô 6g, thảo ô 6g, sáp ong vừa đủ. Nghiền trộn lông ngỗng, hùng hoàng, xuyên ô, thảo ô thành bột mịn; trộn với sáp ong nóng chảy để làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với rượu.
- Trị phong độc ngứa lở: khổ sâm 600g, lông ngỗng 320g. Lông ngỗng sao tồn tính, trộn với khổ sâm khô, tán nhỏ. Dùng nước cơm làm hồ, viên bằng hạt ngô (3g). Lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 - 10g, uống với rượu loãng. Chữa phong ngứa nổi khắp mình, nổi đỏ, gãi ngứa khác thường, chân tay đau nhức, da dẻ nứt nẻ.
- Giảm đau do bị va đập: ống lông ngỗng có máu 7 cái, giun đất 7 con, nhũ hương 5g. Lông ngỗng sao cháy tồn tính, giun đất sao hoặc nướng giòn cùng với nhũ hương nghiền thành bột mịn, thêm ít sáp ong làm viên. Ngày uống 2 lần (sáng, tối); mỗi lần uống 4g với rượu loãng.
- Trị hạch ở cổ (loa lịch): Lấy tất cả lông, màng da chân và miệng, để lên miếng ngói đang nung đỏ cho cháy. Lấy than nghiền nhỏ chia làm 10 phần, mỗi phần uống trong ngày, uống sau bữa ăn.
Một số món ăn - bài thuốc có ngỗng:
- Nước ép thịt ngỗng: Thịt ngỗng cả con, làm sạch bỏ ruột, hầm nấu ép lấy nước. Dùng cho bệnh nhân tiểu đường.
- Ngỗng hầm bổ khí: ngỗng 1 con, hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 30g, sơn dược 30g. Ngỗng làm sạch bỏ ruột; cùng nấu dược liệu, thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn kém, mệt mỏi.
- Ngỗng hầm song bổ thang: thịt ngỗng 1 con, thịt lợn nạc 200g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi, thở gấp, ho suyễn, ăn kém, tiểu đường...
Kiêng kỵ: Người đang có thấp nhiệt (viêm nhiễm khuẩn cấp tính) không dùng.
TS. Nguyễn Đức Quang
Bs. Phó Đức Thuần




Trứng cút - Thuốc bổ quý

 

Chim cút được tôn là sâm động vật, vì vậy người ta cũng đã kiểm nghiệm thấy trứng chim cút rất giàu dinh dưỡng hơn cả trứng gà vịt, đặc biệt loại trứng cút lộn lại tuyệt vời.
Theo Đông y, trứng chim cút bổ ngũ tạng, bổ trung ích khí, dùng bồi dưỡng sức khoẻ rất tốt, nhất là đối với những trường hợp sau khi bị bệnh lâu ngày khí huyết hư nhược, tiêu hoá kém và chị em phụ nữ sau khi sinh con cơ thể bị suy yếu hẳn.
Thêm vào đó, trứng cút cũng rất giàu chất các chất như đồng, coban, niacin và các axit amin thiết yếu. Tyrosine là loại dưỡng chất có khả năng làm cho da khoẻ mạnh. Vì thế, trứng chim cút còn được sử dụng cả trong ngành công nghiệp sản xuất mỹ phẩm. Nồng độ lecithin cao trong trứng cũng có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu. Còn các nhà khoa học Bungari thì cho rằng, hàm lượng phốt pho trong trứng còn cho hiệu quả cao hơn cả thuốc viagra. Trứng cút cũng là một loại thực phẩm có tính kháng khuẩn. Nếu bạn thường xuyên bị cảm lạnh thì các nhà khoa học khuyên bạn nên ăn trứng cút vào mỗi sáng.
Trứng cút được dùng cho những người bị thiếu máu, nhức đầu nặng, hen phế quản, viêm dạ dày. Normalizes trong trứng cũng tốt cho huyết áp và cải thiện tiêu hoá. Bởi vậy thực phẩm này rất có ích cho trẻ em, những người ốm yếu và phụ nữ mang thai. Không giống với trứng gà, trứng cút không có khả năng gây dị ứng. Ngược lại, một số loại protein trong trứng cút có thể ngăn ngừa dị ứng nên trên cơ sở này người ta còn sản xuất thuốc để điều trị dị ứng.
Những kết quả nghiên cứu gần đây còn cho biết, trứng chim cút có tác dụng làm tăng sức đề kháng với phóng xạ và góp phần loại bỏ các nuclit phóng xạ. Vì vậy, nhiều thầy thuốc đã khuyên nên bổ sung trứng chim cút trong thực đơn cho những bệnh nhân bị nhiễm xạ và những người sinh sống ở những vùng sinh thái bất lợi như các thành phố lớn, nơi mức độ bức xạ thường cao hơn.
Dưới đây là một số phương thuốc có công hiệu trị liệu dùng trứng cút.
Dùng cho phụ nữ sau khi sinh con sức khoẻ suy yếu và những người vừa khỏi một bệnh nặng, cơ thể suy nhược: Hầm trứng chim cút với đảng sâm, đương quy, đại táo: Dùng trứng chim cút 3 quả, đảng sâm 15g, đương quy 12g, đại táo 10 quả. Hầm nhừ các vị, ăn trong nhiều ngày sẽ giúp sức khoẻ sẽ phục hồi nhanh chóng.
Trẻ em suy dinh dưỡng và những người cơ thể suy yếu: Cháo trứng cút nấu với gạo tẻ hay gạo nếp ngon thành cháo hoa. Hằng ngày vào buổi sáng hoặc tối ăn một bát. Ăn cháo nóng với 2 quả trứng cút. trong nhiều ngày sẽ có kết quả tốt.
Bồi bổ can thận, dùng chữa bệnh liệt dương do can thận hư: Dùng món trứng chim cút với câu kỷ tử và thỏ ty tử. Lấy 10 quả trứng cút, luộc chín, bóc vỏ. Cho 15g câu kỷ tử, 15g thỏ ty tử vào nồi cùng 10 quả trứng cút đã bóc vỏ, thêm 400ml nước, đun sôi trong 20 phút. Lấy trứng chim cút ăn và chắt nước uống. Chữa bệnh liệt dương do can thận hư có hiệu quả tốt.
BS. Hoàng Xuân Đại

Vị thuốc từ rùa trị thận suy, tinh tủy khô kiệt

 

Theo Đông y, rùa còn có nhiều tên như kim quy, nguyên chư. Các sản phẩm của rùa có nhiều axít amin, chất khoáng, vitamin rất cần cho cơ thể có tác dụng dinh dưỡng và chữa bệnh cao. Mai rùa được Đông y dùng làm thuốc với tên gọi quy bản. Bài viết này xin giới thiệu một số cách dùng rùa trị thận suy, tinh tủy khô kiệt, cơ thể suy nhược để bạn đọc tham khảo.
Bổ âm, trị lao tổn, người gầy ốm, tinh tủy khô kiệt, thận suy:yếm rùa ngâm nước lạnh 5 - 7 ngày, cạo sạch, nướng qua, tán mịn, thêm nước cho vào nồi đất nấu cách thủy trong 1 ngày, rồi lấy nước ấy cô đặc thành cao đóng lọ dùng dần. Ngày dùng 2 thìa canh.

Các bộ phận của rùa chứa nhiều axít amin và khoáng chất tốt cho cơ thể và chữa nhiều bệnh.
Chữa chứng can thận âm hư,hỏa bốc lên gây đau nhức trong xương cốt, sốt về chiều, ho ra máu, tăng huyết áp, thiếu máu, suy nhược thần kinh:
quy bản 240g, thục địa 240g, hoàng bá 160g, tri mẫu 160g. Tất cả tán nhỏ, trộn với tủy lợn nấu chín vo viên. Mỗi lần dùng 6 - 8g. Ngày 2 - 3 lần.
Bổ thận ích can:rùa 1 con 200g, hà thủ ô 15g, trái dâu 12g, gừng 5g, hành 10g, muối vừa đủ. Làm sạch rùa, bỏ đầu, nội tạng và móng, giữ mai lại. Hà thủ ô sao khô, tán thành bột; dâu rửa sạch, hành cắt khúc, gừng cắt lát. Rùa cắt thành 4 miếng, ướp muối; hà thủ ô, gừng, hành để lên mai rùa rồi cho vào thố, xung quanh để trái dâu. Để thố vào nồi nước chừng 40 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần. Ăn 4 ngày là một liệu trình.
Người già đi tiểu đêm nhiều, đái dầm do thận khí bất túc: thịt rùa 100 - 150g, bong bóng cá 15 - 30g, muối vừa đủ. Bong bóng cá ngâm nở. Rùa làm thịt rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, đun sôi 5 phút, vớt ra lọc bỏ mai yếm, cho bong bóng cá vào đun to lửa cho sôi, rồi hạ nhỏ lửa đun chín nhừ cho muối vào là được. Ăn thịt rùa, bong bóng cá, uống canh.
Hoặc: thịt rùa 150g, gà trống hoa 1 con. Thịt rùa rửa sạch thái miếng. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, móng, chặt miếng. Cả hai thứ cho vào nồi đổ nước nấu tới khi chín, cho gia vị, ăn trong ngày.
Trị di tinh:rùa đen 1 con, sa sâm 60g, đông trùng hạ thảo 2g. Rùa làm sạch bỏ nội tạng, cho sa sâm, đông trùng hạ thảo vào cùng nấu, thêm gia vị là được. Ăn cả cái lẫn nước.
Liệt dương, đi tiểu nhiều, gân cốt đau nhức, phụ nữ sau đẻ cơ thể suy nhược, trẻ em gầy còm: rùa cho vào nồi nước, đậy vung, đun to lửa cho nước sôi, bỏ mai rùa, vứt ruột gan, chặt đầu chân, lột da, bỏ đuôi, thái miếng nhỏ rồi cho vào nước sôi nấu lại một lần nữa, lại cho vào nước lạnh, lột bỏ màng da trên thân rùa, rửa sạch, bỏ vào nồi, cho rượu, gừng, hành, muối đun to lửa cho sôi sau hạ lửa nhỏ ninh nhừ, nhặt bỏ hành, gừng và xương rùa ra, chỉ để lại thịt và nước canh rồi cho gạo nếp đã vo sạch vào nấu thành cháo, cháo chín đổ thịt rùa vào, cho các gia vị, đun một lát nữa là được. Ngày chia ăn 2 lần.
Lương y Minh Chánh

Bổ thận tráng dương bằng vị thuốc từ rùa

Theo Đông y, rùa còn có nhiều tên như kim quy, nguyên chư. Thịt rùa tính ôn (có tài liệu ghi bình, lương). Có nhiều tính năng công dụng được ghi trong các sách kim cổ đông tây: nói chung các bộ phận của rùa đều bổ thận, tư âm dưỡng huyết, lưu thông khí huyết khử ứ, mạnh gân cốt cơ nhục, trừ chứng nhiệt chưng. Dùng bồi dưỡng thần kinh, thể lực, lão hóa sớm, đi tiểu đêm nhiều, đái dầm, són đái, sa tử cung, lòi dom, trĩ ra máu, các bệnh viêm nhiễm ở bộ máy hô hấp (kể cả các loại lao), gan, thận, tiêu hóa, ngoài da (do huyết có nhiệt độc). Gần đây có nói đến tác dụng tăng cường miễn dịch, chống ung thư.

Rùa nước ngọt.
Nghiên cứu hóa học các sản phẩm của rùa có nhiều axit amin, chất khoáng, vitamin rất cần cho cơ thể có tác dụng dinh dưỡng và chữa bệnh cao.
Trong y văn cũng như trong thực tiễn cho ta thấy nên dùng rùa vàng (ở đầu, chân và đường viền các ô có màu vàng nhạt). Trọng lượng trung bình khoảng 500g đủ ăn một bữa. Dùng rùa sống khỏe mạnh không dùng rùa ốm yếu, đã chết. Để làm chín thịt rùa có lời khuyên nên hấp cách thủy, ninh, hầm nhừ. Thịt rùa có thể nấu đơn thuần với gia vị hoặc nấu cùng dược liệu có tác dụng chữa bệnh mong muốn. Nếu dùng lần đầu tiên chú ý thăm dò phản ứng của cơ thể nhanh, chậm, tốt, xấu...
Sau đây là một số công thức để áp dụng có trong y văn kim cổ.
Huyết rùa: Dùng huyết rùa với đường lượng vừa ăn. Ngày 2 lần. Mỗi lần 4 thìa. Chủ trị viêm phế quản khó thở, ho khan.
Để bổ máu chữa thiếu máu dùng được cả huyết rùa biển 100ml uống nóng. Tuần vài lần, không hạn chế liệu trình. Kinh nghiệm ở Bình Định dùng rượu huyết rùa tỷ lệ 2 huyết 1 rượu.
Thịt rùa: Dùng làm thức ăn và dược thiện để bổ dưỡng và chữa một số bệnh.
- Bổ thận âm, an thần, ích trí: Rùa vàng 1 con (khoảng 240g làm sạch), hoàng tinh 30g, thiên môn đông 24g, ngũ vị tử 9g, táo đỏ vài quả bỏ hột. Tất cả cho vào nồi, thêm nước vừa đủ. Nấu lửa to cho sôi rồi giảm lửa, nấu tiếp khoảng 2 tiếng cho nhừ nêm gia vị.
- Tư âm dưỡng huyết, ích tâm thận, bổ phế tạng: Thịt rùa 60g, bách hợp 30g, đại táo 10 quả bỏ hạt. Gia vị nấu chung. Ăn cái uống nước canh.
- Tư bổ can thận chữa đau lưng mỏi gối, tăng huyết áp: Thịt rùa 10g, đỗ trọng 1-15g. Nấu chung ăn thịt, uống nước canh, bỏ bã đỗ trọng.
- Tác dụng bổ thận ích tinh dưỡng huyết chữa người gầy yếu xanh xao thiếu máu, luôn mỏi mệt mất sức, sốt âm ỷ, ho lâu ngày: Thịt rùa 750g, chân giò heo hun khói 30g, thái miếng 2 thứ thịt trên xào rán phi hành mỡ gừng cho nhanh, cho vào nồi ninh chân giò để được canh hơi đặc, nêm mỳ chính, ăn cái uống nước canh.
- Chữa gân cốt nhức mỏi: Thịt rùa 1 con vừa phải. Bột thiên hoa phấn, câu khởi tử mỗi thứ 6g, hoa hòe 15g. Nấu chung cho nhừ. Ăn thịt rùa, uống nước canh.
- Lao phổi, ho ra máu: Rùa 1 con vừa phải làm sạch với sa sâm, bạch cập mỗi thứ 10g. Nấu chung ăn thịt rùa với canh. Hoặc sa sâm với đông trùng hạ thảo đều 10g.
- Già yếu thận hư gây đi tiểu nhiều lần ban đêm, són đái: Rùa 1 con vừa phải, một ít thịt chó nạc, gừng, hành, vỏ quýt, rượu, gia vị đủ dùng. Nấu sôi hạ lửa ninh nhừ ăn.
- Bổ thận tráng dương, bổ khí huyết: Thịt rùa 200g, thịt dê 200g, đảng sâm 12g, đương quy 10g, câu kỷ tử 10g, rượu 20g, hạt tiêu bột 4g, đường phèn 15g, gừng 10g, hành, muối, mỳ chính.
Thịt thái nhỏ, thuốc cho vào túi vải. Xào qua thịt với rượu cho thơm chuyển sang nồi khác cùng các thứ còn lại nấu sôi nước rồi hạ lửa ninh nhừ ăn.
- Sa tử cung: Thịt rùa 120g thái miếng, thăng ma 12g cho vào túi vải. Nấu chung với 750ml nước, nấu sôi hạ lửa cho chín nhừ. Ăn thịt uống canh bỏ bã thuốc, ngày 2 lần.
- Ho dai dẳng kinh niên, phong thấp co quắp chân tay: Thịt rùa trộn men rượu, cất thành rượu uống.
Đầu rùa
- Chữa lòi dom, sa tử cung: Đầu rùa 2 cái sấy khô nghiền thành bột, chia 2 lần sáng tối. Uống với nước sôi liền 1 tuần.
- Bổ thận tráng dương: Đầu cổ rùa 1 cái phơi khô tán bột nấu với mỳ sợi, gia vị ăn ngày 1 lần, ăn liền 5 ngày.
Chân rùa
Chữa đau mắt đỏ: 4 cái chân rùa, đường trắng lượng vừa phải. Chân rùa nấu thành keo, cho đường vào. Ăn ngày 1 thang, liền trong nhiều ngày.
Trứng rùa: Để bổ dưỡng nấu chín ăn, uống rượu trắng với một lượng vừa phải.
Gan rùa: Nấu chín ăn chữa chảy máu đường ruột, trĩ.
Chú ý: Bài viết này chỉ nói phần rùa làm thức ăn uống. Rùa có phần yếm rùa (dưới bụng rùa) tên quy bản là một dược liệu làm thuốc quan trọng của Đông y, không thuộc phạm vi bài này.
Rùa là động vật quý hiếm nằm trong danh sách có nguy cơ diệt chủng cần được bảo vệ. Do đó chỉ nên dùng khi thật cần thiết và cần có kế hoạch nuôi phát triển tạo nguồn cung cấp dồi dào hơn như một số nơi đang làm là rất đáng hoan nghênh.
BS. Phó Thuần Hương

Trứng vịt lộn – thức ăn ngon, thuốc bổ quý



Từ lâu đời, trứng vịt lộn (TVL) đã được nhân dân ta và một số nước châu Á coi là món ăn ngon, thuốc bổ quý. Để tạo nên công dụng này phải có gia vị kèm theo là rau răm tươi và gừng tươi thái chỉ, ăn với TVL vừa luộc xong còn nóng, chấm với chút muối rang cho vừa miệng.

Giá trị dinh dưỡng của TVL
Ở nước ta có nhiều loại vịt nhưng hai loại vịt thường nuôi để lấy trứng là: vịt cỏ và vịt chạy Ấn Độ. Trứng vịt cỏ nhỏ, mỗi quả khoảng 60-65g. Vịt chạy Ấn Độ trứng lớn hơn, mỗi quả khoảng 70-80g. Trong quá trình phát triển từ trứng vịt thành trứng vịt lộn (bào thai vịt), một số chất bị tiêu hao biến đổi thành nhiều chất cần thiết cho sự tăng trưởng của bào thai vịt tạo nên giá trị bổ dưỡng của TVL.
Rau răm
Theo Đông y: rau răm còn có tên là thủy liễu, lão liễu. Rau răm mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tiêu thực, sáng mắt, sát trùng. Ăn vừa phải rau răm sống thì ấm bụng, mạnh chân, gối, sáng mắt. Ăn nhiều sinh nóng rét, giảm tính khí, giảm tình dục. Phụ nữ hành kinh ăn nhiều rau răm sống dễ sinh rong huyết. Dùng ngoài rau răm có tác dụng chữa hắc lào (giã đắp hoặc ngâm rượu đặc để bôi). Chữa rắn cắn: thêm với 1 số vị thuốc khác cùng với rau răm tươi, giã nát lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ bị cắn.
Món ăn ngon - bài thuốc bổ
Tên món ăn - bài thuốc thường gọi đơn giản là “trứng vịt lộn”, bao gồm TVL 1-2 quả mới luộc còn nóng và gia vị: 5g gừng tươi thái chỉ, 5g rau răm tươi cắt nhỏ và chút muối rang tán nhỏ, thường ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng.
Công năng, tĩnh vị bài thuốc “trứng vịt lộn”: TVL là chư vị, có tác dụng: tu âm, dưỡng huyết, ích trí, sáng mắt, giúp cơ thể mau tăng trưởng. Rau răm là hỗ trợ có tác dụng sáng mắt, mạnh chân gối, ấm bụng. Gừng tươi là bổ sung, có tác dụng kích thích tiêu hóa, mạnh tim, giải độc thức ăn, chống suy giảm tình dục (cả nam và nữ).
Món ăn bổ sung: TVL có lượng sinh tố A (retinol) và tiền sinh tố A (beta caroten) khá cao - các chất này phải có đủ lượng dầu cần thiết để hòa tan, cơ thể mới hấp thu được trọn vẹn. Dầu thực vật có tác dụng tốt với cơ thể người là các loại dầu vừng, lạc, đậu nành (chứa nhiều acid béo không no và omega-3). Do vậy, món ăn bổ sung kèm với TVL tốt nhất là 1 đĩa lạc luộc (hoặc lạc rang) hoặc đơn giản hơn là uống 1 thìa canh dầu đậu nành (hoặc dầu lạc, dầu vừng, dầu oliu).

Liều lượng: trẻ em 5-12 tuổi dùng 1 quả TVL/ngày.
Trẻ em trên 12 tuổi - người lớn dùng 1-2 quả TVL/ngày.
Nên ăn vào buổi sáng sớm có kèm món ăn bổ sung.
Liệu trình: tối thiểu 15 ngày - đối với trẻ còi cọc, ăn thường xuyên mỗi ngày 1 lần cho đến 16 tuổi (90% số trẻ bồi dưỡng bằng TVL nhiều ngày, có cải thiện chiều cao và thể lực hơn hẳn dùng thuốc bổ khác). Người lớn ốm yếu nên dùng khoảng 60-90 ngày. Trong thời gian bồi dưỡng bằng TVL, cần kết hợp ăn uống đủ chất (nhất là rau, quả tươi sạch) làm việc, học tập đều có tiến bộ. Bỏ hẳn thuốc lá, thuốc lào, hạn chế bia rượu. Thường xuyên tập luyện thể dục vừa sức.
Thận trọng: trong thời gian bồi dưỡng bằng TVL cần hạn chế ăn các loại gan (gà, vịt, lợn, bò...) hoặc uống thuốc có sinh tố A hàm lượng trên 1.000UI – Vì trong 100g trứng vịt lộn đã có 3.914UI sinh tố A, chưa kể tiền sinh tố A.
DS. Trần Xuân Thuyết

Tuesday, February 7, 2012

Vị thuốc từ con dế

Ở nước ta, dế có nhiều loài, loài dế dũi còn có tên là thổ cẩu, tên chữ là lâu cô (Gryllotalpa unispinalpa Sauss.), loài dế mèn, còn gọi là tất suất hay súc chức (Gryllodes berthellus Sauss.).
Dễ dũi, dế mèn đều là vị thuốc
Dế mèn - tinsuckhoe.com
Dế mèn
Để làm thuốc, người ta bắt các con dế, kể cả dế dũi hoặc dế mèn, trước hết cho vào dụng cụ như giỏ tre, đậy kín hom, rồi ngâm vào chậu nước, vừa ngâm vừa xóc cho sạch đất cát, cũng có thể cho dế vào cái thùng có nước, đậy nắp, dùng que quấy đảo cho sạch đất cát, tạp bẩn. Sau khi rửa sạch, dế được ngắt bỏ chân, cánh, ngắt đầu, rút ruột, rồi đem sấy cho khô, cần nâng nhiệt độ sấy lên 50-60o C, ngay từ đầu để dế không bị thiu ôi, sau đó nâng từ từ nhiệt độ lên cao hơn cho đến khi dế khô giòn, bên ngoài có mầu vàng, mùi thơm, vị béo ngậy, là được. Sau khi sấy, lấy dế ra để nguội rồi bảo quản trong các lọ thủy tinh hoặc lọ nhựa khô, đậy kín, để nơi cao ráo, thoáng gió, thường xuyên kiểm tra để phát hiện sâu mọt phá hoại. Khi dùng có thể đem tán thành bột mịn. Đôi khi dùng với lượng ít, người ta chỉ cần chế dế bằng cách nướng trên các mảnh ngói sạch, có lót muối.
Theo Đông y, dế có vị mặn tính hàn, không độc, quy vào kinh bàng quang, đại tràng và tiểu tràng, công năng thông trệ, lợi đại, tiểu tiện, thúc đẻ, sau đẻ rau thai không ra. Dùng trong các trường hợp chữa thủy thũng, táo bón và tiểu tiện bí dắt, sỏi đường niệu. Có thể dùng dưới dạng bột hoặc dạng thuốc sắc, ngày 6 - 12g.
Tiểu tiện bí, nước tiểu ít: Dùng dế và bột cam thảo, đồng lượng, mỗi lần uống 2 - 6g, ngày 2 - 3 lần, trước khi ăn. Nếu không có bột dế chế sẵn, có thể lấy khoảng 20 - 30 con dế, rửa sạch, bỏ chân, cánh, ngắt đầu, rút ruột, sao nhỏ lửa tới khi khô giòn, vàng đều, nghiền mịn. Mặt khác dùng bột cam thảo, đồng lượng, trộn đều uống với nước ấm. Ngày 2 lần.
Trường hợp người già tiểu tiện khó khăn: Dế mèn 4 con, dế dũi 4 con. Nếu không có đủ hai loại dế thì dùng 8 con, một loại cũng được. Đem ngắt bỏ chân cánh, bỏ đầu, rút ruột, cùng với 3g cam thảo, sắc với 300ml nước, còn khoảng 150 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Trị sỏi bàng quang: Kim tiền thảo 40g, xa tiền thảo 40g, ngư tinh thảo 40g, dế mèn hoặc dế dũi 5 con. Trước hết đem các con dế rửa sạch đất cát, ngắt bỏ chân, cánh, ngắt đầu, rút ruột, rồi đem các con dế đặt trên mảnh ngói mới, hoặc mảnh bát sạch đã có sẵn một ít muối ăn. Đặt mảnh ngói lên mặt bếp than hồng, đến khi các con dế bị cháy, hết khói, là được. Lấy ra, để nguội, bỏ hết muối, nghiền các con dế thành bột mịn. Mặt khác đem sắc ba loại dược liệu trên, lấy nước chia làm 2 lần để uống trong ngày với bột dế. Có thể uống liền vài tuần lễ.
Trị chứng "lậu ké đau buốt" (chứng có sỏi trong đường niệu): dế dũi 7 con, muối ăn 40g. Cho muối vào miếng ngói sạch rồi đặt các con dế đã sơ chế như trên vào chính giữa khối muối, đặt trên bếp lò, sấy khô. Lấy dế ra, bỏ hết muối, nghiền thành bột mịn, uống với rượu hoặc nước ấm, mỗi lần 4g, vào lúc đói. Uống vài tuần liền.
Trị chứng viêm bàng quang: Dế 4 con (đã sơ chế như trên), lá sen tươi 2 lá. Uống dưới dạng nước sắc. Ngày một thang, uống liền 1 tuần.
(Theo GS.TS. Phạm Xuân Sinh // Suckhoe & Đoisong)

Friday, February 3, 2012

Một số món ăn, bài thuốc từ lươn

 

XEM VIDEO MÓN NGON VỊ THUỐC TỪ LƯƠN

Đặc tính của con lươn Lươn mình thon dài như rắn, đoạn trước tròn, phần sau dẹp dần, đuôi nhỏ nhọn, thân dài 24 - 40cm, có màu hơi vàng. Trong “gia tộc” của lươn, ấu thời đều là chị em ruột, bởi vì lươn nhỏ toàn là con cái (dưới 20cm), đến 22cm bắt đầu “thay đổi giới tính”. Khi lươn có thân dài 36 - 38cm, tính đực – cái trung bình 50%, trưởng thành đến khoảng 50cm thì hoàn tất quá trình thay đổi giới tính, hoàn toàn là một “đấng mày râu”, tất cả đều biến thành anh em ruột.


Khoa học hiện đại phân tích cho biết lươn có hàm lượng đạm hơi cao, hàm lượng sắt cao hơn gấp đôi so với cá chép và cá chiên, chứa nhiều loại chất khoáng và vitamin, nhất là hàm lượng nguyên tố vi lượng và vitamin A càng dồi dào, kích hoạt sự thay cũ đổi mới, gia tăng thèm muốn, đó chính là nguyên do mà người ta cho rằng lươn giúp “cường dương sinh tinh”. Bởi vì lươn chứa nhiều acid amin đáp ứng nhu cầu của cơ thể, nhất là hàm lượng histidine hơi cao, cấu thành mùi vị tươi tắn đặc trưng của lươn.


Y học cổ truyền cho biết lươn có vị ngọt, tính ấm. Có công năng bổ trung ích khí; trị hư tổn; trừ phong thấp; cường gân cốt; khu phong chỉ kình (chống co giật); trị ho do hư lao; tiêu khát hạ lỵ (đái tháo đường, kiết lỵ); phong thấp gây đau; gân cốt mềm yếu; viêm tai giữa có mủ… Đầu lươn trị lỵ, trị thực tích không tiêu. Da lươn trị phụ nữ có hạch vú cứng đau. Lươn còn giúp hạ đường huyết, nên là món ăn thích hợp cho người bệnh đái tháo đường.


Món ăn - bài thuốc từ lươn
Lươn chiên dòn. Lươn vài con, mổ bỏ nội tạng, thêm tương, rượu, mỗi thứ với lượng vừa để chiên. Ăn thường xuyên giúp chữa trĩ nội ra máu. Lươn nấu thịt heo. Lươn 250g (bỏ nội tạng, cắt đoạn), thịt nạc 100g, hoàng kỳ 50g, đại táo 10 quả, cùng nấu chín, loại bỏ bã thuốc, dùng canh ăn thịt, dùng liền vài ngày. Món ăn đại bổ khí huyết, trị các chứng như: mình mệt mất sức, hồi hộp đoản hơi, hoa mắt chóng mặt…


Lươn tiềm hương nhu. Lươn 3 con (băm nhỏ), hương nhu 10g, tiềm (tần) cách thủy, dùng liền vài mễ, giúp trị chứng cam tích ở trẻ em.


Canh lươn nấu đông trùng hạ thảo. Lươn 250g, đông trùng hạ thảo 3g, nấu canh, dùng liền vài tuần, trị ho do hư lao.


Lươn tần rau kim châm. Lươn 1 con, rau kim châm 20g, tần cách thủy, dùng thường xuyên, trị chân tay yếu không sức.


Bột lươn. Lươn 1 con, giết mổ bỏ nội tạng, rửa sạch, nướng khô, tán thành bột nhuyễn, thêm 10g đường đen đã xào qua trộn lẫn, sau đó nuốt uống với nước ấm, mỗi ngày 1 lần, 5 - 7 ngày là một liệu trình, dùng trị chứng lỵ lâu ngày, tiểu ra máu có mủ.


Đầu lươn. Đầu lươn nướng khô tán bột, dùng uống với rượu vang, mỗi ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 5g, dùng liền 5 - 7 ngày, trị sa hậu môn.


Da lươn. Da lươn phơi khô đốt thành than, tán nhuyễn, dùng uống với rượu vang lúc bụng đói trước bữa ăn, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 3g, 10 ngày là một liệu trình. Dùng trị phụ nữ có bầu vú cứng đau.


Lươn hầm bắp heo. Lươn 500g, bắp heo 150g, dầu mỡ 100g, nước tương 50ml, bột năng 25g, rượu vang 40ml, đường cát trắng 25g, hành, gừng mỗi thứ với lượng vừa. Lươn giết mổ bỏ nội tạng, dùng nước sôi ngâm giây lát, rửa sạch chất nhớt, cắt thành 3 đoạn dài khoảng 30cm. Thịt bắp cắt lát dài 30cm, dày 1mm. Dầu mỡ cho vào chảo nóng, sau khi cho hành, gừng bốc thơm, cho ngay lươn, thịt bắp, rượu vang, đậy nắp hầm trong giây lát, mở nắp, thêm nước lạnh 700ml. Sau khi sôi, dùng lửa nhỏ hầm 30 phút, làm cho thịt mềm. Lại dùng lửa lớn nấu đến hơi đặc, cho vào bột năng, khuấy chảo, rưới lên dầu mỡ, lật trộn lần nữa, rưới tiếp dầu mỡ, cho ra thố. Món ăn có tác dụng cường dương, trị yếu sinh lý.


Cần biết khi ăn thịt lươn
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện Dinh dưỡng Quốc gia: "Trong thịt lươn có một loại ấu trùng ký sinh sống rất dai và chịu được nhiệt độ cao. Vì vậy, nếu chỉ xào qua trên lửa, những ấu trùng này sẽ còn sống và theo đường ăn uống đi vào ruột. Tuy nhiên, ăn thịt lươn như thế nào để cơ thể hấp thu hết thành phần dinh dưỡng?




Tốt nhất, nên chế biến bằng cách nấu chín, ninh nhừ hoặc hấp cách thủy... bảo đảm sao cho thịt lươn khi được dọn lên mâm đã được nấu chín kỹ.


Người tiêu dùng cũng lưu ý khi mua lươn ngoài chợ tuyệt đối không được mua lươn đã chết hoặc ươn về chế biến. Trong thịt lươn chứa rất nhiều protein, trong đó có hợp chất Histidine tốt cho cơ thể, nhưng khi lươn chết, hợp chất này bị ô nhiễm bởi vi khuẩn và có thể chuyển hóa thành chất độc Histamine.


Bình thường, cơ thể người có thể chịu đựng một hàm lượng chất độc này, nhưng nếu hàm lượng cao hoặc cơ thể yếu, mới bệnh xong hoặc trẻ em có sức đề kháng kém sẽ có nguy cơ bị ngộ độc rất cao".
Việt Báo (Theo SK&ĐS