Showing posts with label BÀI THUỐC TỪ CÂY. Show all posts
Showing posts with label BÀI THUỐC TỪ CÂY. Show all posts

Wednesday, August 22, 2012

Đinh Lăng - Cây thuốc quý


Đinh lăng có tên khoa học là Polyscias Fruticosa Harms thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae), trong dân gian còn gọi là cây gỏi cá.
Đinh lăng thuộc loại cây nhỏ, cao 0,8-1,5m. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng như mùi thuốc bắc. Ngoài dược tính quý ra, cây đinh lăng còn trồng làm cảnh. Lá đinh lăng còn nấu canh, lá non làm rau sống ăn rất thơm ngon.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ (lấy ở những cây trồng từ 3 năm trở lên). Người ta thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hay mùa đông vì lúc này hoạt chất tập trung ở rễ. Rễ đào về đem rửa sạch đất cát, thái nhỏ rồi phơi, hay sấy khô. Cũng có thể tẩm thêm rượu, gừng và sao cho thơm. Ngoài rễ ra, người ta còn dùng cả thân và lá đinh lăng.
Theo các nhà dinh dưỡng, trong rễ đinh lăng có chứa nhiều saponin có tác dụng như nhân sâm, nhiều sinh tố B1, ngoài ra rễ còn chứa khoảng 13 loại axit amin cần thiết cho cơ thể, nhờ đó đinh lăng còn giúp tăng trí nhớ, giúp cho cơ thể có sức đề kháng tốt.
Theo Đông y, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm có chức năng chống mệt mỏi và làm tăng sức dẻo dai của cơ thể.
 Liều dùng trung bình là 0,25- 0,50g một lần, ngày uống 2-3 lần, dùng dưới dạng thuốc bột (sao thơm, tán nhỏ, rây bột mịn), thuốc viên, hoặc ngâm rượu.
Dưới đây là một số bài thuốc có cây đinh lăng
-Ho suyễn lâu năm: Rễ đinh lăng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá tất cả đều 8g, củ xương bồ 6g; gừng khô 4g, đổ 600 ml sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
- Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng: Lá đinh lăng khô 80g, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.
- Phong thấp, thấp khớp: Rễ đinh lăng 12g; cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, cỏ rễ xước, thiên niên kiện tất cả 8g; vỏ quýt, quế chi 4g (quế chi bỏ vào sau cùng). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
- Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng: Lá đinh lăng tươi từ 150-200g, nấu sôi khoảng 200 ml nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5- 7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai để uống.
- Chống bệnh co giật hoặc trằn trọc vào ban đêm cho trẻ mới sinh, người ta lấy lá đinh lăng phơi khô đem bỏ vào gối cho trẻ nằm.
- Chữa tắc tia sữa: Rễ đinh lăng 40g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
Tuy nhiên, do thành phần saponin có nhiều trong rễ đinh lăng, chất này có tính phá huyết sẽ làm vỡ hồng cầu, vì vậy chỉ dùng khi cần thiết và phải dùng đúng liều lượng mới có tác dụng.

Sắn dây trị chứng cá, mụn nhọt


Sắn dây có tên khoa học Pueraria thomsoni Benth, thuộc họ đậu (Fabaceae), là một loài dây leo được trồng rất nhiều tại các vùng miền của nước ta.
Hầu hết các bộ phận của cây sắn dây đều được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Song bộ phận dùng tốt nhất là rễ (hoặc củ) được thu hoạch vào mùa đông, xuân. Củ đào rửa sạch đất cát, bỏ lớp vỏ ngoài, cắt khúc hoặc thái lát, sau đó phơi hoặc sấy khô, trong đông y gọi là cát căn.
Theo Đông y, củ sắn dây có vị ngọt, mát, tính bình, đi vào kinh tỳ, vị, phế, bàng quang, có tác dụng thanh nhiệt, sinh tân dịch, trừ phiền nhiệt, thông đại tiểu tiện, làm ra mồ hôi, giải độc. Thường dùng trong các trường hợp tiêu khát (đái tháo đường), cơ thể nóng nực, ngực bụng nóng bức muốn phát cuồng, nôn mửa, lỵ ra máu, tiểu trường không thông lợi và ngộ độc rượu.
Ngoài ra, còn dùng chữa cảm sốt phong nhiệt, nhức đầu, mụn nhọt và phòng ngừa các loại rôm sảy do thời tiết quá nóng bức. Ngày dùng 12 -30gr sắn dây khô, sắc uống. Hoặc dùng 10 -16gr bột, pha với nước sạch để uống.
Dưới đây là một số tác dụng của cây sắn dây:
- Viêm họng, viêm thanh quản cấp tính: Dùng dây sắn đốt chưa cháy hoàn toàn rồi đem tán bột, uống với nước.
Vùng ngực bụng nóng cồn cào, khát nước: Bột sắn dây 120g, gạo tẻ 15g. Gạo tẻ ngâm nước một đêm, chắt bỏ nước, trộn đều với bột sắn dây, nấu cháo ăn trong ngày.
Trẻ em bị rôm sảy do nhiệt độc của mùa hè: Bột sắn dây pha nước sôi cho chín, để nguội rồi cho uống giải khát hằng ngày.
Vết thương chảy nhiều máu: Dùng lá sắn dây tươi giã nát, đắp vào vết thương
Trị mụn trứng cá, mụn nhọt, hoặc uống nhiều rượu mà đi cầu ra máu, có thể dùng củ sắn dây 40gr, đậu xanh 20-30gr, hai thứ rửa sạch, nấu nước để uống hằng ngày.
Chảy máu mũi thường xuyên: Củ sắn dây tươi giã nát, vắt lấy nước cốt, uống mỗi lần 1 cốc.
Trị mụn nhọt sưng đau, viêm họng: Ngày dùng 12-16g thân sắn dây sắc uống. Nếu dùng ngoài thì đốt tồn tính, tán bột, bôi vào chỗ đau hoặc hoà với nước sạch ngậm chữa viêm họng.
Trẻ nhỏ cảm lạnh, nôn mửa, đau đầu, quấy khóc: Sắn dây 30g giã nát, gạo tẻ 50g. Sắn dây sắc với 2 bát nước lớn, đun cạn còn 1 bát, chắt lấy nước nấu cháo với gạo, thêm chút gừng sống và mật ong, cho trẻ ăn trong ngày.
-Ngộ độc thức ăn, đại tiện ra máu do ăn phải đồ nguội, độc: Củ sắn dây tươi, ngó sen tươi 2 thứ giã nát, vắt lấy 500ml nước cốt mỗi thứ, hòa đều, uống dần.
-Trị rắn cắn: Có thể lấy giã lá sắn dây tươi vắt lấy nước uống, bã đắp lên nơi rắn cắn, sau đó chuyển gấp đến bệnh viện gần nhất.
-Trị cảm mạo, sốt, không mồ hôi: Sắn dây 8g, ma hoàng 5g, quế chi 4g, đại táo 5g, thược dược 4g, sinh khương 5g, cam thảo 4g; cho 600ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
-Cảm nắng, sốt nóng, nhức đầu, nôn ọe: Bột sắn dây 12g hòa đường uống; hoặc dùng sắn dây 20g, đậu ván 12g, giã dập, sắc nước uống trong ngày.
-Giải rượu: Cho uống nước vắt từ củ sắn dây (đã gọt vỏ và rửa sạch), thêm ít muối. Hoặc dùng bột sắn dây khuấy với nước sôi, thêm ít muối để ăn.
-Thanh nhiệt cơ thể: Trong những ngày hè nắng nóng, uống hỗn hợp bột củ sắn dây đem pha với nước lọc, đường, chanh có tác dụng làm mát “nội thất” phía trong cơ thể một cách tốt nhất.
Sắn dây có nhiều tác dụng. Tuy nhiên, các thầy thuốc khuyến cáo những người có dương khí hư với các triệu chứng: Đại tiện lỏng, bụng đầy trướng, lạnh bụng, tay chân thường lạnh, không khát nước, miệng nhạt, sắc mặt vàng tái… không nên dùng sắn dây.

Nghệ trắng trị thấp khớp


Nghệ trắng (Wild tumeric) còn có tên khác là nghệ rừng, ngải dại, ngải mọi, ngải trắng, nghệ thơm, tiếng Pa-cô là Tara-hau-hen, tên khoa học là Curcuma aromatica, thuộc họ gừng.
Là loài của Á châu nhiệt đới, phân bố ở hầu khắp rừng nước ta. Nó cũng thường được trồng trong các vườn gia đình để lấy củ thơm và có bột như bột Hoàng tinh. Thu hoạch thân rễ vào mùa thu hay đông, loại bỏ rễ con, rửa sạch, ngâm nước 2 – 3 giờ, ủ mềm, bào mỏng, phơi khô hay sấy khô.
Là cây thảo cao khoảng 20 – 60cm có khi 1m, có thân rễ khỏe, với những củ hình trụ mọc tỏa ra có đốt, ruột màu vàng. Lá rộng hình giáo, nhẵn ở mặt trên, có lông mềm mượt ở mặt dưới, dài 30 – 60cm, rộng 10 – 20cm; cuống lá ngắn ôm lấy thân.
Theo các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc, củ nghệ trắng chứa nhiều hoạt chất thuộc nhóm curcuminoit có tác dụng kháng sinh mạnh, nên được công nhận là thảo dược có nhiều lợi ích trong y học. Trong thành phần nghệ trắng còn có chứa một chất dầu bay hơi có mùi thơm vị cay, có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa một số bệnh ung thư do tác dụng tiêu diệt và loại bỏ các khối u.
Các chuyên gia sức khoẻ Hoa Kỳ đang tiến hành một cuộc thử nghiệm, điều trị bệnh ung thư ruột bằng một loại thuốc được chế biến từ củ nghệ. Nên có lời khuyên nếu thường xuyên ăn nghệ này trong các bữa ăn sẽ giảm được nguy cơ ung thư ruột. Hay ăn nghệ cùng với ăn nhiều rau xanh, có thể ngăn ngừa được nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.
Các nhà khoa học tại New Jersey (Mỹ) đã chứng minh rằng, kết hợp ăn nghệ với bông cải xanh, cải xoắn, củ cải và bắp cải có thể bảo vệ bạn chống lại căn bệnh chết người này.
Đông y cho rằng, nghệ trắng có vị cay, đắng, tính mát; có tác dụng hành khí giải uất, lương huyết phá ứ lợi mật, trừ hoàng đản. Thường dùng trị tức ngực, trướng bụng; nôn ra máu, chảy máu cam, đái ra máu; viêm gan mạn, xơ gan đau nhức, hoàng đản; kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh; động kinh. Ngoài ra còn dùng củ giã ra ngâm trong rượu hoặc sao lên trộn lẫn với những vị thuốc khác để trị đau thấp khớp.
Dưới đây là một số cách sử dụng nghệ trắng trị bệnh.
* Chữa ho gà, thấp khớp: Giã 10g nghệ trắng, tẩm rượu, cho vào lọ kín hấp cách thủy trong 1 giờ, chắt lấy nước uống trong ngày.
* Phong thấp, bong gân, sai khớp: Củ nghệ trắng 10g, rễ ô đầu 10g, nhân hạt gấc 10g. Tất cả giã nhỏ, ngâm rượu với mật gấu hay mật trăn sau 1 tháng là được, dùng xoa bóp.
* Đau bụng kinh, bổ máu sau khi sinh: Nghệ trắng 20g, lá nhọ nồi 20g, củ gấu 20g, lá mần tưới 20g, tô mộc 16g, ngải cứu 12g. Tất cả sao vàng sắc với 400ml nước còn khoảng 100ml, chia 2 lần uống trong ngàỵ
* Phong thấp, bong gân, sai khớp: Củ nghệ trắng 10g, rễ ô đầu 10g, nhân hạt gấc 10g. Tất cả giã nhỏ, ngâm rượu với mật gấu hay mật trăn sau 1 tháng là được, dùng xoa bóp.
* Chảy máu cam, nôn ra máu, đái ra máu, viêm gan: Nghệ trắng, địa long (giun đất), đơn bì, chi tử mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
* Nôn ra máu: Nghệ trắng 10g, Địa long 10g, Đơn bì 10g, Chi tử 10g, sắc uống.
Cần lưu ý là ba loại nghệ tuy hình dáng thân cây, lá và hoa trên mặt đất hơi giống nhau, nhưng rễ hoàn toàn khác nhau về màu sắc, kích cỡ, hình dáng, mùi vị và tác dụng.
 Nghệ vàng có màu vàng sặc sỡ hơn đã được nghiên cứu và được dùng rất phổ biến trên toàn thế giới, có tác dụng tốt chữa đau dạ dày và làm lành các vết loét dạ dày, trong khi các loại còn lại ít sắc tố hơn và công dụng cũng khác nhau, nhưng nhiều người cứ dùng lẫn lộn rồi truyền miệng mà không có một chứng cứ khoa học nào.
Nghệ trắng cũng được cảnh báo là không dùng cho phụ nữ mang thai vì có nhiều nguy cơ sảy thai, không được dùng trước hoặc sau khi tiến hành phẫu thuật vì làm chậm quá trình đông máu gây chảy máu nhiều, có thể dẫn đến tử vong. Dù sao khi sử dụng bất kỳ loại thuốc nào kể cả thảo dược thiên nhiên cũng cần tham khảo ý kiến các chuyên gia.

Cây mía, cây thực phẩm, cây thuốc


Cây mía ( Đông y gọi là Cam giá vì cam là ngọt, Cam giá là cái gậy có vị ngọt ) là cây công nghiệp nhiệt đới có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của ấn Độ. Mía ưa nắng nhiều, nhiệt độ cao, sợ rét, đòi hỏi nhiều nước trong suốt thời gian sinh trưởng. Tuy nhiên mía có tính thích nghi rộng, mía không những được trồng nhiều ở miền nhiệt đới mà còn được trồng tới 30o vĩ Bắc (tới tận bang Luiziama, Mỹ) và 30o vĩ Nam (Nam Phi, Achentina, Australia).
Chu kỳ sinh trưởng của mía là 1 năm, mía phát triển mạnh trong mùa mưa, thành thục trong mùa khô. Sau khi thu hoạch thân, từ gốc sẽ mọc lên cây con, nếu chăm sóc tốt mía lại cho năng suất cao như năm trước, sang năm thứ 3, 4 năng suất kém dần. Mía là cây có hiệu suất quang hợp cao nhất, có khả năng cho 50 - 150 tấn mía cây ( đã tước lá, phát ngọn ) trên 1 ha. Với năng suất 83 tấn mía cây/ha, thì 1ha mía cung cấp khoảng 8,3 tấn đường tinh, 2,5 tấn mật, 21 tấn bã mía, 21 tấn ngọn cho chăn nuôi, 40 tấn mía gốc và lá làm phân bón và rác ủ. Như vậy, 1 ha mía cho giá trị năng lượng bằng 20 ha đồng cỏ.

Ở nước ta từ lâu đời đã có giống mía địa phương như mía lau, mía de, mía bầu...Các giống này hàm lượng đường rất thấp nên trong thế kỷ 20 đã nhập và trồng rất nhiều giống có năng suất và hàm lượng đường cao như các giống của Indonesia, Trung Quốc, ấn Độ... Ngoài các giống chuyên trồng để làm đường, ở nước ta còn có các giống để ăn tươi và làm thuốc như mía Bầu, mía Đường chèo, mía Tím, mía Cò ke.

Trong thân cây mía có 8 - 18% đường, 0,22% protein, 0,5% chất béo, các chất khoáng: canxi, phot pho, sắt, kali, silit, mangane, manhezi..., một số vitamin, các chất men và một số hoạt chất khác. Trong mía có rất nhiều đường do đó trồng mía chủ yếu để làm đường (đường trắng, đường vàng, đường phên, đường phèn, đường phổi...) và còn dùng để làm mật, làm nước uống, làm thuốc, chế biến rượu, chế biến thực phẩm... ở một số vùng đã dùng cả cây mía còn ngọn và lá để thờ trong 3 ngày Tết (đặt bên cạnh bàn thờ, mỗi bên một cây). ở Trung Quốc còn tập tục tặng mía cho nhau ngày Tết với ý nghĩa năm nay tốt hơn năm trước. Thời Tam Quốc, Nguỵ Văn Đế Tào Phi ( con cả Tào Tháo ) rất thích ăn mía, thường vừa ăn mía vừa bàn việc nước với các đại thần, xong việc lại cầm cây mía làm gậy chống để về cung.

Theo Đông y, mía ngọt, ngon, tính mát, có tác dụng giải khát, tiêu phiền nhiệt bốc nóng, mát phổi, tiêu đờm, điều hoà tì vị, khỏi nôn oẹ, mửa khan, xốn xang trong bụng. Danh y Vương Thế Hùng đời Thanh, Trung Quốc viết: “Mía ngọt, mát, thanh nhiệt, điều hoà chức năng dạ dầy, nhuận tràng, giã ruợu, hạn chế giun đũa, ợ hơi, lợi hầu họng, mạnh gân cốt, trừ phong, dưỡng huyết, đại bổ âm tì”. Đông y thường dùng mía điều trị các chứng khô miệng lưỡi, thiếu tân dịch, táo bón, rối loạn tiêu hoá, nôn mửa, ợ hơi, khó tiểu tiện, sốt cao.

1. Chữa nôn mửa: Nước mía 7 chén + nước gừng 1 chén, nhấp dần. Chữa ăn vào nôn ra, hoặc sáng ăn chiều nôn, tối ăn sáng nôn ( Sách : Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam ).

2. Ho gà: Mía lau 3 lóng + rau má 1 nắm + gừng 2 lát . Dùng 2 chén nước sắc uống. Nên uống dần từng ít.

3. Ho vì hư nhiệt, miệng khô, sổ mũi: Nước mía nấu cháo với hạt kê, ăn vài ngày.

4. Đề phòng hậu sởi: Củ sắn dây 40g + rau mùi 20g + mía 2 đốt. Sắc với 2 chén nước còn 1 chén. Uống nhiều ngày trong khi có dịch sốt.

5. Táo bón do nhiệt kết ở đại tràng: Miệng thở ra có mùi hôi, bụng đầy, nước đái vàng, nóng, rêu lưỡi vàng mỏng. Vỏ cây đại 40g + phèn chua sống tán mịn 8g + nước mía 300ml. Vỏ cây đại cạo vỏ ngoài, sao, tán mịn, nước mía cô đặc. Trộn đều luyện viên 0,5g. Mỗi lần uống 4g lúc sáng sớm, trước khi đi ngủ. Khi thấy đi cầu được thì thôi .

6. Sốt rét lâu ngày thành báng - Phế lao: ăn mía ngọt nhiều ngày sẽ có hiệu quả. Cần kết hợp với nhiều cách chữa khác.


7. Viêm dạ dày mạn tính: Nước mía 1 cốc + nước gừng một ít, trộn đều, ngày uống 2 lần.

8. Sốt phiền khát: Mía, củ năn vừa đủ dùng, rửa sạch, thái vụn, sắc uống thay nước chè.


9. Ho do hư nhiệt: Mía vừa đủ dùng, cắt vụn, cho gạo dính vào nấu chè, ăn mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng, chiều, mỗi lần 1 bát.

10.Táo bón: Nước mía, mật ong mỗi thứ 1 cốc nhỏ, trộn đều uống lúc đói, ngày 2 lần vào buổi sáng, buổi chiều .

11.Buồn nôn do thai nghén: Nước mía 1 cốc, nước gừng tươi 1 thìa, ngày uống vài lần.

12.Trẻ em ra mồ hôi trộm: Ăn mía hoặc uống nước mía vài lần.

13.Khó tiểu tiện: Mía rửa sạch, thái vụn + râu ngô + sa tiền thảo, sắc uống ngày 2 lần sáng, chiều.

Mía là cây thực phẩm, cây thuốc rất quý, chúng ta nên nghiên cứu sử dụng tốt cây mía để phục vụ cuộc sống nhưng nên chú ý không nên dùng quá nhiều đường.

Chú ý: Các bài thuốc: 2; 3; 4; 5; 6; trích trong sách “Chữa bệnh bằng thức ăn thông thường” Các bài: 7; 8; 9; 10; 11; 12; 13: trích trong sách Trung Quốc “Những bài thuốc trị bệnh bằng trái cây”.

Tuesday, July 17, 2012

Cây bầu đất chữa tiêu viêm


Bầu đất còn có tên là rau lúi, rau lùi, đái dầm, kim thất, đái dầm, thiên hắc địa hồng, người Tày gọi là khảm khon... Là loại cỏ, thân nhẵn, có nhiều cành, lá mọc so le, nhọn ở đầu, mép khía răng cưa không đều, lá dày, nhẵn, mọng nước, cuống ngắn. Mặt trên phiến lá màu xanh thẫm đen, mặt dưới màu đỏ tím, do đó có tên “thiên hắc địa hồng” (“thiên hắc” là mặt trên mầu xanh đen, “địa hồng” nghĩa là mặt dưới màu đỏ). Cụm hoa hình đầu, màu vàng cam, mọc thành đầu cành và kẽ lá. Quả bế, hình trụ, mang một mào lông trắng ở đỉnh. Cây ra hoa kết quả vào mùa xuân-hè.
Bầu đất mọc hoang và được trồng tại nhiều nơi để làm rau ăn người ta hái ngọn non trần qua nước sôi, xào hoặc nấu canh cua, cũng có thể trộn dầu giấm,… Khi sử dụng làm thuốc thường hái toàn cây, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.
Bầu đất có vị cay ngọt thơm, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tán ứ tiêu thũng, tiêu viêm, chỉ khái (cầm ho). Có thể sử dụng chữa viêm họng, viêm khí quản mạn tính, phong tê thấp khớp xương đau nhức, chấn thương sưng đau, ...
Một số bài thuốc thường dùng:
-  Hỗ trợ điều trị viêm phế quản:Rau bầu đất 80g, thịt lợn nạc 50g nấu thành canh ngày ăn cùng với cơm. Có thể dùng nhiều ngày.
- Chữa đái rắt, đái buốt (do viêm đường tiết niệu):Dùng bầu đất 80g, rửa sạch, cho 700ml nước sắc nỏ lửa còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 10 - 15  ngày. Hoặc có thể dùng bài thuốc sau: Bầu đất 30g, mã đề 20g, râu ngô 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần uống trong ngày, 10 ngày một liệu trình.
- Chữa bầm tím (tổn thương phần mềm) do va đập:
Dùng bầu đất tươi 30g, rửa sạch để ráo nước, thêm vài hạt hồ tiêu, giã nát đắp vào vết thương. Ngày 1 lần mỗi lần  khoảng 3 giờ đồng hồ, đắp liền 3 ngày. 
- Chữa phụ nữ viêm bàng quang: Bầu đất 15g thổ tam thất, ý dĩ nhân mỗi thứ 10g. Cho vào ấm đổ 800ml nước, đun nhỏ lửa còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10 - 15 ngày một liệu trình. 
-Trẻ em đái dầm: Bầu đất 20g, nấu canh ăn hàng ngày. Nên ăn vào buổi trưa. Các buổi tối nên hạn chế ăn canh, uống nhiều nước.
Chữa viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái dắt): Bầu đất 30g, mã đề 20g, râu ngô 20g. Sắc uống ngày một thang.
Khí hư, bạch đới: Bầu đất 20g, rễ củ gai sao vàng 16g, cỏ xước 16g, kim ngân hoa 12g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang.
  Lương y Hữu Nam

Vị thuốc từ quả me


Me là loại quả dân dã. Quả me có màu nâu, bên trong chứa cùi thịt và nhiều hạt có vỏ cứng. Bên ngoài là lớp vỏ cứng dễ vỡ, trong chứa một chất cơm màu đỏ nâu, vị chua ngọt.
Theo các nhà dinh dưỡng, trong quả me có nhiều vitamin C, B, khoảng 14% acid tartaric và một số nhỏ malic acid… nên có tác dụng nhuận tràng, giúp kích thích vị giác, cải thiện tình trạng kém ăn, mệt mỏi do nắng nóng hay buồn nôn, chán ăn khi mang thai. Trái me góp phần bù nước, điện giải, cung cấp vitamin, khoáng chất, giải nhiệt... Trong Đông y, quả me có vị chua, tính mát, thanh nhiệt, giải khát, tăng cường tiêu hóa. Chữa các bệnh: phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn; chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa; trị chứng hay chảy máu chân răng; chữa sốt do nắng nóng... Sau đây là một số công dụng của quả me.
- Chữa ho, làm ấm bụng, kích thích tiêu hóa: Quả me xanh đem cạo vỏ ngoài, rửa sạch, để ráo nước, giã nát với gừng tươi cho thật nhuyễn, loại bỏ xơ. Thêm đường vừa đủ. Đun nhỏ lửa và đảo đều, sau đó trộn với bột cam thảo vừa đủ khô, rồi đóng khuôn làm thành dạng ô mai, mỗi ngày ngậm 3 – 6 lần.
- Phụ nữ mang thai nôn nghén, chán ăn: Cạo vỏ 30g quả me xanh, rửa sạch cho vào nồi nấu với 300 ml nước, khi còn 200 ml thì bắc nồi xuống, chỉ lấy phần nước, thêm đường vừa đủ và chia ra uống 3 lần trong ngày, uống 3 ngày.
- Trị chứng hay chảy máu chân răng: 3 - 5g thịt từ quả me chín pha với một chén nước ấm uống trong ngày, uống vào buổi sáng sau bữa ăn. Dùng liên tục trong 7 ngày. Hoặc 20g quả xanh, nạo bỏ vỏ, đun với hai bát nước còn một bát, chia uống hai lần trong ngày, khi uống có thể cho thêm ít đường hoặc mật ong. Uống từ 5 - 7 ngày.
- Giúp giảm đau nhức xương khớp: 100g quả me xanh, đem đun với nước, khi chín vớt ra dầm nát lấy phần thịt (bỏ vỏ và hạt), để nguội trộn với muối đã giã nhỏ thoa đều lên chỗ xương khớp đau nhức, nên thoa vào trước các giấc ngủ trưa và tối. Thoa trong 7 ngày.
- Chữa sốt do nắng nóng: 15g quả me xanh đã nạo vỏ, đem đun khoảng 1 bát nước, khi sôi dầm nát quả me, sau đó bỏ vỏ và hạt, chắt lấy nước, khi uống pha thêm đường hoặc mật ong. Bài thuốc này, giúp cơ thể hạ nhiệt nhanh chóng, kích thích thèm ăn.
- Giải nhiệt ngày hè: Nghiền 20g thịt quả me chín với 200ml nước, lượt bỏ hột và xơ, khi uống pha cho thêm ít đường, khuấy đều, có thể cho thêm đá lạnh, uống hàng ngày.

Cà hôi trị thoát giang


Cà hôi còn gọi là cây la, La rừng, Ngoi, Chìa vôi, Toong muốc, Phô hức (Tày), Co sà lang (Thái), Sung mou (Luang prabang – Lào)… Tên khoa học là Solanum verbascifoloum L. (Solanum pubescens Roxb hay Solanum erianthum Don), thuộc họ Cà (Solanaceae).
Là loại cây mọc hoang ở những vùng rừng núi và Trung du nước ta như Hà Giang, Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn… ngay ở Hà nội cũng có. Cây nhỏ hoặc nhỡ cao chừng 2,5m đến 5m. Thân hình trụ, khi vỏ thân non có màu xanh phủ một lớp lông che chở. Toàn cành lá phủ một lớp lông dày hình sao màu vàng nhạt hoặc vàng xám. Quả nhỏ mọng hình cầu, màu xanh, khi chín có màu vàng, đường kính 6mm, hạt nhiều có vân mạng, đường kính 2mm. Mùa hoa vào tháng vào tháng 3 – 6, quả từ tháng 7 – 10 hằng năm.
Bộ phận dùng làm thuốc là lá tươi thu hái quanh năm. Ngoài ra còn đào rễ dùng trong 4 mùa, thái mỏng phơi hay sấy khô. Thuốc có công dụng chữa lòi dom, hắc lào, trị lao hạch, trĩ…; trị sán ở trâu bò. Tại Malaysia còn dùng nước sắc rễ cà hôi chữa trị cơn đau nguy kịch của người và rối loạn sau bữa ăn. Cũng ở nước này còn dùng lá cà hôi tươi giã nát rịt vào hai bên thái dương trị đau đầu (theo Burkill & Haniff, 1930. Gard Bul S.S. 6.226). Trong thú y người ta còn dùng lá thái nhỏ cho vào lỗ mũi để trị bệnh sổ mũi ở ngựa. Nhiều nước khác còn dùng lá cà hôi để chữa trị tiểu tiện đục và ra khí hư ở phụ nữ.
Để áp dụng và tham khảo dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc trị liệu các bệnh chứng có dùng cây cà hôi.
* Chữa đau đầu: Lấy lá cà hôi tươi giã nát rồi rịt vào 2 bên thái dương, băng giữ để không bị rơi.
* Chữa lòi dom (thoát giáng): Lấy lá tươi ngắt bỏ cuống và gân lá. Giã nát rồi sao nóng rịt vào chỗ dom lòi ra. Hoặc có thể để nguyên lá úp vào hậu môn; cũng có thể nướng cháy lá rồi vo lại nhét vào hậu môn. Nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh sau khi dùng thuốc không đi lại.
* Chữa trĩ và hạch sưng: Lấy lá cà hôi rửa sạch, giã nát, sao nóng đắp vào chỗ trĩ sau khi đã rửa sạch hoặc vào hạch băng giữ lại. Tốt nhất nên đắp thuốc vào tối hằng ngày.
* Chữa hắc lào, ghẻ lở: Lấy lá cà hôi tươi, vò lấy nước chấm vào chỗ bị hắc lào sau khi đã rửa sạch hay nơi ghẻ lở.
* Chữa sán trâu và bò: Dùng lá cà hôi nấu nước cho trâu bò uống.

Nghệ đen - thuốc chữa các bệnh đường tiêu hóa


Nghệ đen (nga truật) là vị thuốc rất phổ biến ở các vùng nông thôn, hầu như tất cả các tiệm thuốc bắc đều có bán, giá cả dễ chịu. Các bà các chị rất ưa chuộng nó, vị thuốc có nhiều công dụng mà giá cả lại hợp lý với túi tiền nông dân.
Đây là vị thuốc chữa được nhiều bệnh về đường tiêu hóa; các bệnh chậm kinh, đặc biệt là các bệnh đau co thắt do khí trệ. Tuy nhiên nghệ đen là vị thuốc rất khó uống. Mùi vị của nó vừa đắng lại vừa ngang, nhiều người cố nuốt nhưng lại bị chặn ngang cổ buộc phải nôn trở ra.
Cây nghệ đen mọc hoang ở khắp rừng núi Việt Nam, phát triển rất tốt ở vùng ven sông suối, vùng trung du có độ ẩm cao, đất màu mỡ tơi xốp. Bộ phận dùng là rễ củ. Củ thu hái về cắt bỏ rễ con rửa sạch luộc chín, đem ngâm dấm. Cách làm như sau: Cứ 1kg nghệ đen ngâm với 160ml dấm, và 500ml nước. Tất cả cho vào nồi, đậy kín, đun cho đến khi cạn hết nước, vớt ra thái lát, phơi khô dùng dần.
Công dụng và liều dùng:
Như đã nói nghệ đen rất tốt cho bệnh lý đường tiêu hóa như viêm dạ dày, loét, vết loét mau ra các tổ chức hạt, ăn uống chậm tiêu, đau co thắt dạ dày đại tràng, buồn nôn, kinh nguyệt không đều, chậm kinh, bế kinh, chuẩn bị có kinh đau bụng. Chế biến thuốc dạng viên hoàn, thuốc bột trộn mật ong, ăn ngày 40 đến 50g chia làm 2 lần.
Theo đông y: Nghệ đen có vị đắng, cay, tính bình. Vào kinh can, kinh đại tràng. Có tác dụng hành khí, phá khí, hoạt huyết, tiêu tích, hóa thực. Trong các đơn thuốc chữa bệnh, nghệ đen thường phối hợp với tam lăng, tam lăng thiên về phá huyết tụ, chống kết tập tiểu cầu. Còn nghệ đen mạnh về hành khí, phá khí. Nghệ đen có trong đơn thuốc giúp ăn ngon miệng, đàn bà chóng mặt hoa mắt, bế kinh, hành kinh đau bụng.
Gồm các vị thuốc sau: Lô hội 25g, long đởm thảo 10g, đại hoàng 10g, nga truật 30g, hồng hoa 15g, hà thủ ô 20g, đương quy 20g, ngưu tất 20g, đào nhân 20g, hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 20g, sài hồ 20g. Các vị thuốc trên được sao vàng, thái nhỏ, ngâm rượu 2 tuần. Mỗi bữa ăn uống 20ml.
Đối với bệnh co thắt đại tràng thể táo bón, khí trệ, đi ngoài ra máu có thể dùng nghệ đen 1kg, tam lăng 500g, đại hoàng 40g, vừng đen 200g, tất cả đập bột trộn với mật ong ngày uống 40g chia 2 lần.
Nghệ đen chữa viêm dạ dày mãn tính, ăn uống tiêu hóa kém, đầy hơi, ợ chua, buồn nôn: Nghệ đen 1kg, ô tặc cốt 300g, sài hồ 200g tất cả rang vàng đập bột trộn với mật ong. Ăn ngày 40g chia 2 lần.
Chú ý: Nên uống thuốc trước khi ăn 30 phút.

Vị thuốc trừ trái sa kê


Sa kê tên khoa học là Artocarpus altilis, thuộc họ dâu tằm (Moraceae) là loại cây được trồng nhiều ở miền Tây Nam bộ nước ta. Các bộ phận như trái, rễ, lá, vỏ và nhựa của cây sa kê có nhiều dược tính nên được sử dụng làm thuốc trị bệnh.
Theo Đông y, cây sa kê có tác dụng tốt đối với một số bệnh về chuyển hóa. Cụ thể: Thịt của trái sakê có tác dụng bổ tỳ, ích khí; hạt sakê thì bổ trung ích khí, lợi trung tiện; vỏ cây có tác dụng sát trùng tiêu viêm, tiêu độc, dùng để trị ghẻ; nhựa cây sa kê pha loãng trị tiêu chảy, lỵ; rễ sa kê có tính làm dịu, sát khuẩn, dùng để trị ho, hen suyễn, các chứng rối loạn dạ dày, đau răng hay bệnh về da rất hiệu quả; lá sa kê phối hợp với lá đu đủ non tươi, giã với vôi để đắp trị mụn nhọt.
Trong dân gian còn sử dụng lá sa kê để trị phù thũng hay viêm gan vàng da bằng cách lấy lá già (còn tươi) nấu uống. Lá sa kê còn có thể phối hợp với một số vị thuốc khác trị sỏi thận, gút, tiểu đường, tăng huyết áp...
Dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ cây sa kê.
- Chữa viêm gan vàng da: Lá sa kê tươi 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20 – 50g. Nấu chung, lấy nước uống trong ngày.
- Trị đau răng: Lấy rễ cây sa kê, nấu nước ngậm và súc miệng.
- Trị bệnh gút, sỏi thận: Dùng lá sa kê già (còn tươi) 100g, dưa leo 100g, cỏ xước khô 50g, cho 3 thứ vào nồi nấu lấy nước uống trong ngày.
- Trị chứng tăng huyết áp dao động: Dùng lá sa kê vàng (vừa rụng) 2 lá, rau ngót tươi 50g, lá chè xanh tươi 20g, nấu chung lấy nước uống trong ngày.
- Trị tiểu đường týp 2: Lấy lá sa kê già 100g (khoảng 2 lá), quả đậu bắp tươi 100g, lá ổi non 50g, cho vào nồi nấu lấy nước uống hằng ngày.
Lưu ý, chỉ nên dùng lá sakê sắc uống trong trường hợp phù thũng, bí tiểu hoặc viêm nhiễm, còn bình thường không nên uống thường xuyên, nhất là uống quá nhiều sẽ không có lợi, bởi vì ngoài tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm, lá sakê còn chứa độc tính nhất định.

Điều - thực phẩm, cây thuốc


Cây điều còn gọi là đào lộn hột vì nó thuộc họ Đào lộn hột hay còn gọi là họ Xoài (Anacardiaceae) tên khoa học: Anacardium occidentale L.; đồng nghĩa: Anacardium curatellifolium A.St.-Hil.) là cây ăn quả quan trọng chỉ có ở miền Nam nhưng lại không thấy có ở miền Bắc.
Điều không những là cây thực phẩm quý, cho vị thuốc tốt mà còn là cây phủ xanh đất trồng đồi trọc, cây chắn gió, chắn cát. Điều là cây nhiệt đới, xanh quanh năm, cao 6 – 14m, thân ngắn cành dài, lá đơn nguyên hình trứng tròn đều, hoa nhỏ mọc thành chuỳ. Quả thật là một loại quả khô, hình quả thận, nặng 5 – 9g, vỏ mầu xám, cuống quả phình to bằng quả trứng màu vàng, đỏ hay trắng, làm cho ta có cảm giác phần cuống quả phình ra là quả và quả thật là hạt do đó có tên là “Đào lộn hột”
Điều nguồn gốc ở Braxin nhưng các nước trồng nhiều nhất lại là Ấn Độ, Việt Nam, Tanzanai, Mozambic. Điều phát triển ở vùng nóng ẩm và nửa khô hạn. Cây không chịu được giá rét, dưới 7 – 8oC cây ngừng sinh trưởng, do đó điều chỉ phát triển tốt ở miền Nam nước ta nhờ khí hậu phù hợp.
Quả Điều có rất nhiều công dụng. Nhân Điều rất ngon bùi như hạt dẻ hay hạnh nhân, ngon hơn lạc, được dùng trong chế biến Chocola, kẹo Nuga, bánh ngọt, bánh quy, kem. Nhân điều rang là món nhậu lai rai rất tốt. Một số nước dùng nhân điều thay sữa đối với một số người bị dị ứng sữa, người béo phì không muốn tăng cân, dùng cho các nhà thể thao và luyện tập thể hình.
Nghiền một bát nhân điều sống, cho thêm nửa bát nước táo, một thìa mật ong, khuấy đều sẽ có dung dịch sữa rất giầu protein. Quả giả là nguyên liệu tốt để chế biến. Ép quả giả lấy dịch lên men sẽ có rượu nhẹ thơm ngon (rượu cajou) hoặc lấy dịch làm nước quả, sirô (rau hoa quả chữa bệnh).
Đặc biệt các bộ phận của cây điều rất giàu dược tính nên được sử dụng làm thuốc trị một số bệnh như:
* Thuốc an thần: Lấy 20 – 30g lá điều phơi khô thái nhỏ sắc với 400ml nước, lấy 100ml uống chia 3 lần.
* Chữa kiết lỵ: Dùng nhân hạt điều cùng với măng cụt, hạt cau già và rau má, mỗi thứ 30g, sắc đặc chia 3 lần uống trong ngày.
* Chữa tiêu chảy:  Lấy vỏ cây điều phơi khô, thái mỏng sắc lấy nước uống chia làm 3 lần.
* Chữa đau nhức: Dùng rượu điều (nước quả giả ủ lên men) để xoa bóp (Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
* Chữa chai chân, nứt nẻ chân, vết loét: Bôi dầu vỏ vào nơi chai chân nứt nẻ mỗi ngày từ 3 – 4 lần.
* Chữa viêm họng: Súc miệng bằng rượu điều ngày 3 – 4 lần.
* Chống nôn mửa: Nhấm nháp rượu điều ngày vài lần.

Kim thất thuốc tiêu viêm


Kim thất còn gọi là rau lúi, rau lùi, đái dầm, thiên hắc địa hồng, Khảm khon (Tày). Tên khoa học Gynura Acutifolia thuộc họ Asteraceae. Thấy mọc hoang hoặc được trồng làm rau ăn. Nhưng Kim thất lại giàu dược tính nên được sử dụng làm thuốc. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây còn tươi hay phơi, sấy khô.
Kim thất là loại cỏ có thân thảo, nhẵn với nhiều cành. Lá mọc so le, cuống ngắn, đầu lá nhọn, mép khía răng cưa không đều, lá dày, nhẵn mọng nước. Mặt trên phiến lá màu xanh thẫm đen, mặt dưới màu đỏ tím, do đó gọi tên là Thiên hắc địa hồng. Cụm hoa hình đầu, màu vàng cam mọc ở đầu cành hay kẽ lá. Quả bế hình trụ mang một mào long trắng ở đỉnh. Ra hoa và kết quả vào mùa hè.
Đông y cho rằng, Kim thất có vị cay ngọt thơm, tính bình, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm, tán ứ tiêu thũng, chỉ khái. Được sử dụng trị viêm họng, viêm khí quản mạn, phong tê thấp khớp xương đau nhức, chấn thương sưng đau…
Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin nêu một số cách trị bệnh từ cây kim thất
* Trị viêm phế quản mạn: Kim thất 80g, thịt lợn nạc 50g, tất cả nấu thành canh ăn cùng cơm trong nhiều ngày.
* Trị đái dắt, đái buốt: Kim thất 80g, đổ nước nấu nhỏ lửa, chia 2 lần ăn trong ngày. Dùng 10 – 15 ngày.
Hoặc Kim thất 30g, mã đề 20g, râu ngô 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cứ 10 ngày là 1 liệu trình.
* Chữa va đập bầm tím: Kim thất 30g, thêm vài hạt hồ tiêu, giã nát đắp vào vết thương, ngày 1 lần, sau 3 giờ lại đắp tiếp miếng khác. Dùng trong 3 ngày.
* Chữa vết thương chảy máu: Giã kim thất đắp, buộc rịt, nhanh chóng cầm máu, làm dịu đi sự viêm sưng, đau nhức.
* Chữa viêm bàng quang ở nữ: Kim thất 30g, thổ tam thất 10g, Ý dĩ 10g, cho vào ấm đổ nước sắc kỹ nhỏ lửa, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10 – 15 ngày 1 liệu trình.
* Trị đái dầm ở trẻ: Kim thất 20g, nấu thành canh cho trẻ ăn hằng ngày. Ăn vào buổi trưa. Tối nên hạn chế ăn canh và uống nước nhiều.
* Chữa khí hư, bạch đới: Kim thất 20g, rễ củ gai (sao vàng)16g, cỏ xước 16g, Kim ngân hoa 12g, Cam thảo đất 16g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
* Chữa đau lưng nhức mỏi:  Thái nhỏ 10 ngọn Kim Thất để nấu thành bát canh để ăn. Khỏi đau lưng sau 5 – 6 giờ.  
* Chữa táo bón, kiết lỵ: Dùng máy xay sinh tố xay 6 ngọn Kim Thất thái cùng với 120 ml nước. Chia làm 2 phần để uống vào buổi sáng và chiều. Sau 5,6 ngày sẽ khỏi.  
* Chữa đau bụng, ỉa chảy: Nhai khoảng 10 lá KimThất hoặc giả nát hòa với nước để uống. Sẽ giảm đau bụng và ỉa chảy sau 30 phút.  
* Trị mụn ngứa, lở loét do sâu lông, vết cắn của côn trùng, động vật: Vò nát, xoa xát, đắp buộc bằng lá, ngọn Kim thất. Khỏi sau vài giờ.
* Chữa bong gân: Giã nát 2 ngọn Kim thất đắp lên chỗ viêm gân, đau nhức sau đó dùng một lá Đại Tướng Quân hơ lửa cho nóng, quấn quanh bàn chân đã đắp Kim thất giả nhỏ, buộc hoặc băng bên ngoài để giữ ổn định. Sau 6 – 8 giờ sẽ khỏi.  
* Bị ngộ độc do thức ăn: Dùng máy xay sinh tố để xay 6-8 ngọn Kim thất cùng với 100-200 ml nước, phân làm 2 lần uống cách nhau 2 giờ. Nhanh chóng hấp thụ bớt độc tố, làm giảm tác dụng chất độc.  
* Chữa mất ngủ: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim thất, hoặc xào hay nấu canh ăn, sẽ có tác dụng an thần, điều hòa máu huyết, tạo điều kiện thuận lợi cho giấc ngủ tốt.  
* Chữa nhức răng: Giã nát một ngọn Kim thất, dùng từng phần để nhai ngậm chổ răng đau, sẽ mau chóng giảm đau.  
* Thấp khớp, cảm giác kiến bò tại các bàn chân, bàn tay: Giã nát một ngọn Kim thất, xoa xát tại nơi đau nhức, xơ cứng các khớp. Giảm ngay sự đau nhức khó chịu sau vài phút. Trường hợp thấp khớp kinh niên, thường xuyên uống mỗi tối vài ngọn đã xay máy sinh tố.  
* Viêm đại tràng mản tính: Dùng máy xay sinh tố xay mỗi ngày 6 ngọn Kim thất với 120 ml nước, chia làm hai để uống vào mỗi buổi sáng và tối. Thường xuyên ăn canh Kim thất, hoặc xào để ăn vào các bửa cơm. Sẽ khỏi đau sau vài tháng.  
* Người không bệnh gì cả: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim thất, hoặc xào, nấu canh sẽ có tác dụng tốt làm cho máu huyết được lưu thông, điều hoà, tăng cường sức khoẻ, chống bệnh ...Điều hòa huyết áp, điều hòa và tăng cường các chức năng nội tiết.

Cây lựu - Chữa lỵ kinh niên



Cây lựu còn có tên gọi là tháp lựu, thạch lựu, an thạch lựu, đan nhược, kim bàng, kim tương, tạ lựu..., có tên khoa học là Puni-cagranatum L.
Là một loại cây nhỏ, thuộc mộc, cao chừng 3-4m, thân xám có vỏ mỏng, cành mảnh, lá đơn mọc đối, hình thuôn dài, mép nguyên cuống ngắn. Hoa lựu màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) mọc riêng lẻ, hoa thường nở về mùa hè. Quả da màu lục, khi chín màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có nhiều hạt mọng với sắc hồng trắng, có vị ngọt, thơm. Cây lựu được trồng để làm cảnh, làm thuốc và lấy quả ăn với nhiều dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất...
Theo Đông y, vỏ quả lựu vị chua, chát, tính ôn, có tác dụng làm săn ruột, cầm tiêu chảy, trừ giun. Vỏ rễ có tác dụng tẩy sán (chú ý có độc). Vỏ quả lựu vị chua, chát, tính ôn, có tác dụng làm săn ruột, cầm tiêu chảy. Mới đây, các nhà khoa học đã chứng minh, quả lựu có chứa chất chống oxy hóa rất mạnh. Nước ép quả lựu, hạt lựu, vỏ lựu có tác dụng hạ cholesterol, chống lão hóa, chữa bệnh hẹp động mạch cảnh (uống nước ép quả lựu liên tục 30 ngày có kết quả rõ rệt).
Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh:
- Trị tiêu chảy hoặc tiêu ra máu, di tinh, bạch đới, lỵ trực khuẩn: Vỏ quả lựu 15 g, sắc 3 lần, mỗi lần với một bát nước, cô lại còn 250 ml, chia làm 3-4 lần uống trong ngày cho đến khi khỏi bệnh.
- Chữa nổi mày đay, mẩn ngứa do nhiệt: Vỏ quả lựu tươi, ké đầu ngựa, bèo cái, bồ công anh, thổ phục linh, hà thủ ô, mỗi loại 12 g xác ve sầu, mã đề, cam thảo đất, mỗi thứ 8g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 750 ml nước trong 15 phút, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Mỗi liệu trình 3-5 ngày.
- Chữa chảy máu cam: Hoa lựu 6g, rửa sạch cho 250 ml nước, sắc còn 100 ml, chia 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 5-7 ngày.
- Chữa lỵ kinh niên, phân có máu, mủ: Vỏ quả lựu, a giao, đương quy mỗi thứ 10 g, hoàng liên, hoàng bá, gừng tươi mỗi thứ 5 g, cam thảo bắc 3 g. Sắc 3 nước, cô lại còn 250 ml, chia làm 4 lần uống trong ngày, uống 7-10 ngày.
- Chữa ho do nhiễm lạnh: Hoa lựu trắng tươi 24 bông, đường phèn 15g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 500 ml nước trong 15 phút, sắc còn 150 ml, chia 2 lần uống trước khi đi ngủ. Mỗi liệu trình 7-10 ngày.
- Tẩy giun đũa, giun kim, giun tóc: Vỏ quả lựu 15 g, hạt cau già 10g. Sắc 3 lần rồi cô lại còn 100ml rồi thêm 20g đường cát. Uống vào buổi tối trước khi đi ngủ (sau khi ăn 3 giờ), liên tục trong 3 ngày.
- Sâu răng: Vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm về phía răng sâu.
- Hỗ trợ trị viêm tiền liệt tuyến: Hoa lựu tươi 30g nấu canh với thịt lợn ăn hàng ngày.
Chú ý: Vỏ quả lựu cần sao khô, giã cho dập thành bột thô rồi mới sắc để phát huy hết tác dụng. Hoa, vỏ quả và vỏ rễ thạch lựu không nên dùng cho người bị táo bón

Wednesday, June 27, 2012

Vị thuốc từ cây me

Trái me có tác dụng mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực, chữa nóng quá sinh phiền khát, tiểu đỏ sẻn, trị nóng rát cổ, ho khản tiếng. 
Ở Việt Nam, me được trồng phổ biến từ lâu, từng hàng me xanh mướt dọc đường phố, đường làng ngõ xóm, trong các vườn cây ăn quả. Các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc: trái me dưỡng can, minh mục, hoá tích, tán bì, sát khuẩn, thoái nhiệt, chỉ khát, mát gan, phổi, dạ dày, tiêu thực, chữa nóng quá sinh phiền khát, tiểu đỏ sẻn, trị nóng rát cổ, ho khản tiếng. 

Một số cách dùng me chữa bệnh 

- Nôn nghén, chán cơm khi có thai: Quả me 30g, đường trắng 10g. Me cạo vỏ cho vào nồi nấu với 300ml nước, đun sôi kỹ còn 200ml, chắt nước bỏ bã, cho đường quấy đều chia 3 lần uống trong ngày. Uống trong vài ba ngày liên tiếp. Có thể dùng mứt me, ô mai me cam thảo để ngậm. 

Quả me chín có tác dụng chữa táo bón. 

- Bệnh gan mật gây vàng da: Thịt quả me 20 -120g pha đường đủ ngọt uống trong ngày với liều trẻ em 3 tuổi: 5g, 5 tuổi:10g, 12 tuổi: 30g. Quả me nghiền nát bỏ xơ, cứ 50g thịt quả me trộn với 125g đường cho vào 500g đun còn 200g. Để uống chữa sỏi mật đồng bào vùng Đồng Tháp Mười dùng hạt rang vàng xay bột mịn uống với nước đun sôi để nguội. 

- Trẻ em mùa hè rôm sảy, mẩn ngứa: Dùng lá me nấu nước tắm. 

- Táo bón: Ăn quả me chín hoặc sắc nước gỗ me uống. 

- Viêm lợi, răng: Vỏ cây me sắc nước đặc ngậm, súc miệng. 

- Chảy máu ngoài da: Cầm máu bằng rắc bột vỏ cây me hoặc giã đắp. 

- Tẩy giun: hạt me rang chín tán bột 190g, 160g bột quả dun (sử quân tử đã bào chế kỹ tránh gây nấc), đường vừa đủ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi sáng 3 viên uống 3 sáng liền. Không phải dùng thuốc tẩy. 

- Viêm kết mạc: Lá me rửa thật sạch đủ để hãm vào cốc nước thật sôi lấy nước để rửa mắt. 

- Bồi dưỡng chữa suy nhược: vitamin C có nhiều ở quả chữa chảy máu chân răng. Vitamin B có nhiều ở búp lá, lá non dùng để pha nước uống, hoặc làm rau ăn hằng ngày.

Tuesday, June 26, 2012

Thầu dầu tía chữa sa tử cung


Thầu dầu tía còn gọi là cây đu đủ tía, tên khoa học là Ricinus communis L thuộc họ thầu dầu (Euphorbiacae). Cây thầu dầu tía được sử dụng lá tươi để đắp lên trán và 2 bên thái dương để chữa đau đầu do cảm sốt. Hạt thầu dầu được ép thành dầu để làm thuốc nhuận trường, thông tiện, trong các chứng táo bón của trẻ em hay phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ. Thuốc có tác dụng tẩy nhẹ.
Theo GS. Đỗ Tất Lợi thì dầu thầu dầu không gây hiện tượng xót trong ruột, chỉ làm ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn, mà không gây ảnh hưởng đến tiểu khung, bởi vậy được sử dụng cho phụ nữ đang mang thai là rất tốt để chống táo bón mà không gây ra nguy hiểm gì.
Người ta còn sử dụng lá thầu dầu để trị liệu các chứng bệnh ngoài da như: Da viêm mủ, eczema, mẩn ngứa, ung nhọt, hay các bệnh viêm tuyến vú, viêm đa khớp, diệt dòi, diệt bọ gậy. Rễ cây thầu dầu còn dùng để chữa phong thấp, đau nhức khớp, đòn ngã sưng đau, sài uốn ván, động kinh, tâm thần phân liệt... Lá và rễ cây thầu dầu thường được sử dụng với liều trung bình từ 30 – 60g tùy theo chứng bệnh. Dùng ngoài được lấy lá giã đắp... Người ta cũng đã xác định được các hoạt chất chứa trong hạt thầu dầu.
Cụ thể là hạt thầu dầu đã phơi khô của cây thầu dầu thấy chứa một protein rất độc có tên ricin, chiếm tỷ lệ 3 – 5% trong hạt. Nhưng sau khi ép dầu thì chất này lại nằm trong khô dầu nên không sử dụng được khô dầu. Cũng theo GS. Đỗ Tất Lợi thì chất độc ricin có trong hạt thầu dầu này chỉ cần liều 0,002mg cho 1kg thể trọng đã giết chết một con thỏ. Hay chỉ cần 3g khô dầu cũng đủ giết chết một con bê nặng 100kg. Hoặc chỉ cần tiêm 0,003mg chất độc ricin cho 1kg thể trọng chó cũng đủ giết chết nó.
Với người, 3mg tiêm dưới da hay 180mg uống tức chỉ 1 hạt thầu dầu cũng đủ gây nôn mửa, 3 – 4 hạt là đủ làm chết trẻ em, 14 – 15 hạt là giết chết người lớn. Cơ chế tác dụng gây độc của ricin là làm vón hồng cầu và bạch cầu lại.
Tuy nhiên, tiêm chất ricin đã được đun lâu có thể gây miễn độc. Thanh huyết miễn độc antiricin để lâu cũng có thể làm giảm bớt hiệu lực. Do có độc tính như vậy nên trong Đông y người ta không sử dụng hạt thầu dầu làm thuốc uống trong, mà chỉ sử dụng làm thuốc đắp ngoài. Tác dụng của độc chất này giống như vi khuẩn nên có thể gây miễn dịch, nghĩa là khi cho súc vật ăn với liều nhỏ, làm nhiều lần, sau đó lại cho chúng ăn tăng lên với liều khá cao mà súc vật không gây chết.
Dưới đây là một số phương thuốc chữa trị từ cây thầu dầu tía
* Chữa đau đầu do cảm: Lấy lá thầu dầu tía đắp lên trán và 2 bên thái dương, một lát sau sẽ thấy đầu nhẹ giảm hay khỏi đau (kinh nghiệm trong dân gian).
* Làm thuốc để tẩy nhẹ: Lấy dầu hạt thầu dầu 10-30g, uống vào lúc đói, chỉ cần sau 3-4 giờ là sẽ đi tiêu nhiều lần mà không bị đau bụng. Nếu muốn tẩy mạnh chỉ cần tăng liều dầu hạt thầu dầu lên 30-50g thì sẽ đi đại tiện kéo dài 5-6 giờ liền (Theo GS. Đỗ Tất Lợi).
* Chữa sa tử cung và trực tràng: Lấy hạt thầu dầu giã nát sau lấy đắp lên đầu.
* Sinh khó hay sót nhau: Lấy hạt thầu dầu 14 hạt, giã nát đem rịt vào lòng bàn chân cả 2 bên, nhưng khi đã sinh xong hay nhau sót đã ra hết phải tháo bỏ ngay thuốc ra và rửa sạch lòng bàn chân nơi đã đắp thuốc.
* Chữa liệt thần kinh mặt: Lấy hạt thầu dầu giã nát đắp vào phía mặt nơi đối diện (theo TS. Võ Văn Chi).

Wednesday, February 15, 2012

Cây cối xây

tbal canh

Tên khác: Nhĩ hương thảo (磨盘草), Kim hoa thảo.

Cây cối xay

Tên khoa học: Abutilon indicum (L.) Sweet, họ Bông (Malvaceae).
Mô tả:
Cây: Cây nhỏ sống hàng năm hay lâu năm, mọc thành bụi, cao 1-2m, có lông mềm trên toàn thân và các bộ phận của cây. Lá mọc so le, hình tim, mép khía răng. Hoa vàng, mọc ở nách lá, có cuống dài bằng cuống lá. Quả gồm tới 20 lá noãn dính nhau nom như cái cối xay lúa. Hạt hình thận, nhẵn, màu đen nhạt.
Mùa hoa quả tháng 2-6.
Dược liệu: gồm các đoạn thân, cành, lá, hoa, quả. Tất cả các bộ phận đều có lông. Thân lớn đường kính khoảng 1,2 cm, được cắt vát dài 1 – 1,5 cm. Thân nhỏ và cành thường được cắt thành đoạn dài 3 – 4 cm. Vỏ thân có vân nhăn nheo dạng lưới, màu nâu xám nhạt hay lục xám, vỏ cành thường nhẵn. Lá khô bị nhăn nheo, nhàu nát, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt hơn, nếu ngâm nước rồi rải trên một mặt phẳng sẽ thấy lá mỏng mềm, hình tim, đầu nhọn, dài rộng khoảng 5 – 10 cm. Hoa màu vàng, có cuống, mọc đơn độc ở nách lá. Quả hình cầu cụt đầu giống thớt cối xay, đường kính 1,5 – 2 cm, có khoảng 20 phân quả, mỗi phân quả có một vỏ nhọn như gai, có lông dày, chứa 3 hạt màu đen nhạt, hình thận.
Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta.
Thu hái: Vào mùa hạ, đem về, giũ sạch bụi, cắt thành những đoạn theo kích thước quy định, phơi hoặc sấy khô.
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Abutili indici), rễ, hạt.
Thành phần hóa học: Lá chứa nhiều chất nhầy và asparagin. Cây chứa tinh dầu với các thành phần là b-pinen, caryophyllen oxyd, cineol, geraniol, geranyl acetat, alemen, eudesmol, farnesol, borneol. Hạt chứa raffinose 1,6% và dầu nửa khô 4,21% gồm chủ yếu là glycerid của các acid linoleic, oleic, palmitic, stearic. Rễ chứa dầu béo, b- sitosterol, b-amyrin và một alcaloid chưa xác định.
Công năng: Giải biểu nhiệt, hoạt huyết, lợi tiểu.
Công dụng: Cảm mạo phong nhiệt, sốt cao, đau đầu, tai ù, điếc, sốt vàng da, tiểu tiện vàng đỏ, đái rắt buốt, phù thũng, lở ngứa, dị ứng.
Cách dùng, liều lượng: Sắc uống hoặc giã nát đắp mụn nhọt. Lá ngày dùng 8 – 20g, hạt 2 – 4g, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Bài thuốc:
1. Đau tai, tật điếc: Cối xay 60g hoặc 20-30g quả, nấu với thịt lợn mà ăn. Đối với tật điếc, dùng rễ Cối xay, Mộc hương, Vọng giang nam, mỗi vị 60g, nấu với đuôi lợn mà ăn.
2. Sau khi đẻ phù thũng: Lá Cối xay 30g, ích mẫu 20g sắc uống.
3. Kiết lỵ hay mắt cá màng mộng: Quả Cối xay, hoa Mào gà mỗi vị 30g, sắc uống.

Ghi chú:
Người có thận hư hàn, tiểu tiện nhiều và trong, ỉa chảy không nên dùng. Phụ nữ có thai dùng phải cẩn thận.

Cây chó đẻ răng cưa

pông khnong

Tên khác: Diệp hạ châu (叶下珠).

Cây chó đẻ răng cưa

Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L., họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Mô tả: Cây thảo sống hàng năm hoặc sống dai. Thân cứng màu hồng, lá thuôn hay hình bầu dục ngược, cuống rất ngắn. Lá kèm hình tam giác nhọn. Cụm hoa đực mọc ở nách gần phía ngọn, hoa có cuống rất ngắn hoặc không có, đài 6 hình bầu dục ngược, đĩa mật có 6 tuyến, nhị 3 chỉ nhị rất ngắn, dính nhau ở gốc. Hoa cái mọc đơn độc ở phía dưới các cành, dài 6 hình bầu dục mũi mác, đĩa mật hình vòng phân thùy, các vòi nhụy rất ngắn xẻ đôi thành 2 nhánh uốn cong, bầu hình trứng. Quả nang không có cuống, hạt hình 3 cạnh.Cây mọc hoang ở khắp nơi, trong nước cũng như ở các nơi trong các vùng nhiệt đới.
Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Phylanthi).
Phân bố: Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta.
Thu hái: vào mùa hè, rửa sạch phơi nắng gần khô, đem phơi trong râm rồi cất dùng.
Tác dụng dược lý:

Điều trị viêm gan:

Tại Việt Nam, khá nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng điều trị viêm gan của Diệp hạ châu đã được tiến hành, chẳng hạn: nhóm nghiên cứu của Lê Võ Định Tường (Học Viện Quân Y – 1990 – 1996) đã thành công với chế phẩm Hepamarin từ Phyllanthus amarus; nhóm nghiên cứu của Trần Danh Việt, Nguyễn Thượng Dong (Viện Dược Liệu) với bột Phyllanthin (2001).
Tác dụng trên hệ thống miễn dịch:
Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của cao lỏng Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV. Năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất từ Diệp hạ châu được một hoạt chất có tác dụng này và đặt tên là “Nuruside”.
Tác dụng giải độc:
Người Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc dùng Diệp hạ châu để trị các chứng mụn nhọt, lở loét, đinh râu, rắn cắn, giun. Nhân dân Java, Ấn Độ dùng để chữa bệnh lậu. Theo kinh nghiệm dân gian Malaysia, Diệp hạ châu có thể dùng để trị các chứng viêm da, viêm đường tiết niệu, giang mai, viêm âm đạo,… Công trình nghiên cứu tại Viện Dược liệu – Việt Nam (1987 – 2000) cho thấy khi dùng liều 10 – 50g/kg, Diệp hạ châu có tác dụng chống viêm cấp trên chuột thí nghiệm.

Điều trị các bệnh đường tiêu hóa:

Cây thuốc có khả năng kích thích ăn ngon, kích thích trung tiện. Người Ấn Độ dùng để chữa các bệnh viêm gan, vàng da, kiết lỵ, táo bón, thương hàn, viêm đại tràng. Nhân dân vùng Haiti, Java dùng cây thuốc này trị chứng đau dạ dày, rối loạn tiêu hóa,..
Bệnh đường hô hấp:
Người Ấn Độ sử dụng Diệp hạ châu để trị ho, viêm phế quản, hen phế quản, lao,. ..
Tác dụng giảm đau:
Kenneth Jones và các nhà nghiên cứu Brazil đã khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của một vài loại Phyllanthus, trong đó có cây Diệp hạ châu – Phyllanthus niruri. Tác dụng giảm đau của Diệp hạ châu mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin. Tác dụng này được chứng minh là do sự hiện diện của acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid (beta sitosterol và stigmasterol) có trong Diệp hạ châu.
Tác dụng lợi tiểu:
Y học cổ truyền một số nước đã sử dụng Diệp hạ châu làm thuốc lợi tiểu, trị phù thũng. Ở Việt Nam, Diệp hạ châu được dùng sớm nhất tại Viện Đông y Hà Nội (1967) trong điều trị xơ gan cổ trướng. Một nghiên cứu của trường Đại học Dược Santa Catarina (Brazil-1984) đã phát hiện một alkaloid của Diệp hạ châu (phyllan thoside) có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, các nhà khoa học đã nhờ vào điều này để giải thích hiệu quả điều trị sỏi thận, sỏi mật của cây thuốc.

Điều trị tiểu đường:

Tác dụng giảm đường huyết của Diệp hạ châu (Phyllanthus niruri) đã được kết luận vào năm 1995, đường huyết đã giảm một cách đáng kể trên những bệnh nhân tiểu đường khi cho uống thuốc này trong 10 ngày.
Thành phần hoá học: flavonoid, alcaloid phyllanthin và các hợp chất hypophyllanthin, niranthin, phylteralin.
Công năng: Thanh can, minh mục, thấm thấp, lợi tiểu.
Công dụng: trẻ con cam tích, phù thủng do viêm thận, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi bàng quang, viêm ruột, tiêu chảy, họng sưng đau.
Cách dùng, liều lượng: Lợi tiểu, chữa phù thũng. Chữa đinh râu, mụn nhọt (giã nát với muối để đắp). Chữa viêm gan virut B. Ngày uống 20-40g cây tươi, có thể sao khô, sắc đặc để uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Bài thuốc:
+ Chữa suy gan do nghiện rượu, ứ mật: Diệp hạ châu : 10g, Cam thảo đất : 20g
Cách dùng : Sắc uống thay nước hàng ngày.
+ Chữa viêm gan do virus B: Diệp hạ châu đắng: 100g Nghệ vàng : 5g.
Cách dùng : Sắc nước 3 lần. Lần đầu 3 chén, sắc còn 1 chén. Lần 2 và 3 đổ vào 2 chén nước với 50g đường, sắc còn nửa chén. Chia làm 4 lần, uống trong ngày.
Ghi chú: Cây chó đẻ thân xanh (Diệp hạ châu đắng – Phyllanthus amarus Schum et Thonn.) cũng được dùng với cùng công dụng.
- Chế phẩm Hepaphil lọ 100 viên nang XNDPTƯ 25 chữa viêm gan virut B.

Cam thảo dây

pakrom
Tên khoa học: Abrus precatorius L.

Cây cam thảo dây

Họ: Đậu (Fabaceae).
Tên khác: Dây cườm cườm, Dây chi chi
Mô tả:
Cây leo với cành nhánh nhiều và mảnh. Lá kép lông chim chẵn gồm 9-11 cặp lá chét thuôn, tù, màu lục sẫm; cuống lá chét và cuống lá kép đều có đốt. Hoa nhiều, nhỏ, màu hồng hay tím nhạt, có tràng hoa dạng bướm, xếp thành chuỳ ở nách lá. Quả đậu dẹt, có 3-7 hạt. Hạt hình trứng, nhẵn bóng, to bằng hạt đậu gạo, màu đỏ chói, có một đốm đen rộng bao quanh tễ. Mùa hoa quả tháng 3-6 trở đi đến tháng 9-10.
Phân bố:
Loài cây liên nhiệt đới, mọc hoang trong các rừng còi, rừng thưa vùng núi thấp đến trung du và đồng bằng. Ở nước ta, thường gặp nhiều ở các tỉnh miền Trung từ Thừa Thiên – Huế đến Ninh Thuận. Cũng thường được trồng làm cảnh và làm thuốc ở nhiều nơi.
Trồng trọt:
Bộ phận dùng:
Phần trên mặt đất (Herba Abri precatorii)
Thu hái, chế biến:
Trồng được 3 tháng đã có thể thu hoạch dây lá. Cắt các đoạn dây mang lá, quấn lại thành bó rồi phơi khô. Thu hái rễ vào mùa xuân-hè; thu hoạch quả vào mùa thu rồi phơi khô, đập lấy hạt.
Thành phần hóa học:
Lá, rễ Cam thảo dây chứa một chất ngọt tương tự glycyrrhizin của Cam thảo, nhưng vị khó chịu và đắng. Hạt chứa một albumin độc (toxalbumin) là abrin có cấu trúc và tính chất gần với ricin trong hạt thầu dầu; 1/2mg abrin đã là liều tử cho người trưởng thành; còn có các chất khác như L. abrin, abralin, precatorin, hemaglutinin, trigonellin. N-dimethyl tryptophan methyl este, hypaphorin, một số sterol như stigmasterol, brassicasterol, men ureaza. Vỏ hạt chứa chất màu là abarnin (anthocyan monoglycosid).
Công năng:
Dây lá, rễ Cam thảo dây có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Hạt có vị đắng, rất độc, có tác dụng thông cửu khiếu, sát trùng, tiêu viêm. Abrin là một albumin độc; khi vào cơ thể, nó sẽ tạo ra một kháng thể gây vón hồng cầu dễ dàng, làm phù tẩy kết mạc và gây hại tới giác mạc một cách vĩnh viễn.
Ở Đông Phi, có nơi dùng lá trị rắn độc cắn. Ở Inđônêxia, người ta dùng dây lá làm thuốc chữa đau bụng, trị bệnh spru (ỉa chảy vùng nhiệt đới). Ở Philippin, lá và rễ sắc chữa ho, chữa đau mắt hột mạn tính. Rễ dùng thay Cam thảo vì có tính làm dịu. Hạt dùng để tẩy nhưng độc nên không dùng nhiều. Ở Ấn Độ, người ta dùng hạt làm thuốc tẩy, gây nôn và kích dục, dùng trong những rối loạn thần kinh và ngộ độc của súc vật. Người ta cũng dùng bột làm thuốc đạn gây sẩy thai. Rễ cũng dùng gây nôn và chống độc.
Công dụng:
Người ta thường dùng dây lá Cam thảo dây để điều hoà các vị thuốc khác, dùng chữa ho, giải cảm, trị hoàng đản do viêm gan siêu vi trùng. Có thể dùng thay Cam thảo bắc. Thường phối hợp với các vị thuốc khác. Người ta còn dùng lá Cam thảo dây nhai với muối và nuốt nước để chữa chứng đánh trống ngực. Hạt chỉ dùng ngoài để sát trùng, tiêu viêm, làm mụn nhọt chóng vỡ mủ (giã nhỏ đắp); tốt nhất là trị vú sưng đau do tắc tia sữa: người ta lấy một lượng vừa đủ, giã nát, nghiền thành bột, trộn với dầu mè bôi và đắp ngoài.
Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 8 – 16g sắc uống, dùng phối hợp với các vị thuốc khác.
Ghi chú:
Hạt cam thảo dây rất độc. Chất độc đó là abrin, tan được trong nước. Nếu đem hạt giã nhỏ, hòa với nước uống sẽ bị ngộ độc với triệu chứng biếng ăn, ăn mất ngon, mệt mỏi, đau đầu dữ dội, huyết áp hạ, mất thăng bằng cơ thể, chân tay run rẩy, nôn mửa, tiêu chảy. Thời kỳ tiền ngộ độc kéo dài ít nhất vài giờ trước khi xuất hiện triệu chứng ngộ độc. Nửa hạt cam thảo dây nhai nuốt cũng đủ gây độc cho người. Nước ngâm hạt cam thảo dây bôi vào chỗ da bị xước sẽ gây loét tại chỗ, nhỏ vào mắt sẽ gây phù tấy kết mạc dẫn đến hỏng giác mạc