Wednesday, February 15, 2012

Bài thuốc từ con bọ ngựa

Bọ ngựa còn gọi là con bù cào hoặc ngựa trời hay đường lang, tên khoa học là Mantis religiosa L, thuộc họ bọ ngựa Mantidae.
Là loại côn trùng cỡ lớn, toàn thân dài màu xanh lục, thường thấy sống trong các lùm cây hay bờ bụi, thích nghi với môi trường ẩm và sáng. Bộ phận được sử dụng làm thuốc là cả con bọ ngựa mà thuốc được Đông y gọi tên đường lang. Còn tổ của con bọ ngựa cũng được thu hoạch dùng làm thuốc và thường lấy tổ vào tháng 10 đến tháng 1 hằng năm.
Cách bào chế bọ ngựa thành thuốc cũng đơn giản. Khi bắt bọ ngựa về vặt bỏ hết đầu, chân, cánh và ruột đem rang vàng cho thơm rồi tán bột, cất sử dụng dần. Còn tổ bọ ngựa sau khi thu về cho vào đồ khoảng 30 phút để trứng bên trong tổ chín. Sau đem nướng vàng hoặc sao giòn, tán bột mịn. Cũng có khi lại được sao với rượu hay sao với giấm hoặc đốt tồn tính.
Đông y cho rằng dược liệu bọ ngựa có vị ngọt, mặn, hơi tanh, tính bình không độc. Có công năng bổ thận ích tinh, giảm đau, chữa ra mồ hôi trộm, đái nhiều về đêm, trị xuất tinh sớm, liệt dương, di tinh, đau lưng, khí hư, trẻ đái dầm, đái són ở người cao tuổi, phụ nữ bế kinh, chữa viêm họng, trĩ, kinh phong, co giật… Dùng uống hoặc đắp ngoài. Liều dùng trung bình hằng ngày tùy bệnh chứng mà sử dụng từ 6-8g hay từ 6-12g. Dùng ngoài tổ bọ ngựa đốt tồn tính, tán bột, trộn với dầu để bôi chữa trị mụn nổi có mủ ở trẻ em. Cũng có thể sử dụng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để trị các bệnh chứng. Đặc biệt tổ bọ ngựa trên cây dâu được gọi là tang phiêu tiêu, dùng phối hợp với các vị khác có tác dụng bổ thận tráng dương…
Dưới đây là một số tham khảo và áp dụng thuốc từ bọ ngựa trị những chứng trạng hay gặp sau đây:
Thuốc bổ thận, trị đau lưng, đái són: Tổ bọ ngựa 30g, ba kích 30g, thạch hộc 20g, đỗ trọng 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tán bột mịn, trộn bột với mật ong làm hoàn to nặng 6g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên chiêu với nước rượu hâm nóng.
Hoặc có thể dùng (phương này rất hiệu nghiệm đối với người cao tuổi) gồm tổ bọ ngựa 10g, kim anh 10g, liên tu 10g, sơn dược 12g, sắc với 400ml nước còn lại 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.
Trị xuất huyết ở dạ dày, phổi: Lấy tổ bọ ngựa sao vàng, tán bột. Bạch cập 15g, sắc lấy 100ml, chia 3 phần; mỗi phần nước thuốc bạch cập uống với 3g bột bọ ngựa/lần, uống 3 lần trong ngày.
Chữa tiểu tiện không thông: Tổ bọ ngựa 8g, hoàng cầm 10g, nấu với nước uống ngày 1 thang.
Chữa đái dầm: Tổ bọ ngựa 12g, đẳng sâm 12g, phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 8g, thỏ ty tử 8g, ba kích 8g, tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
Chữa bạch đới, khí hư: Tổ bọ ngựa tẩm rượu, sao khô, tán nhỏ rây bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g với nước gừng.

Bài thuốc hay từ quả lựu

Ở nước ta, lựu được trồng khắp nơi để làm cảnh, lấy quả ăn và làm thuốc. Đông y dùng các bộ phận của cây lựu làm thuốc từ rất lâu đời.
Theo sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh, quả lựu có vị ngọt, chua, chát, tính ấm, hơi độc, tác dụng trừ được lao rễ dùng sát trùng rất tốt và trị được huyết lậu.
Một số bài thuốc tiêu biểu sau đây có dùng lựu và đã được chứng minh hiệu quả qua điều trị:
- Chữa nổi mày đay, ngứa ngáy do phong thịnh, huyết nhiệt: Vỏ lựu tươi, ké đầu ngựa, bèo cái, bồ công anh, thổ phục linh, hà thủ ô, mỗi loại 12 g xác ve sầu, mã đề, cam thảo đất, mỗi thứ 8 g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 750 ml nước trong 15 phút, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Nếu ngứa ngáy khó ngủ thì có thể gia thêm lạc tiên và lá vông (10 g/món) cùng sắc uống.
- Chữa phỏng lửa hoặc phỏng nước sôi: Vỏ lựu rửa sạch, sấy khô, tán bột mịn, trộn đều với dầu mè thoa lên chỗ phỏng, ngày 3-4 lần.
- Chữa lỵ kinh niên, phân có máu, mủ: Vỏ quả lựu, a giao, đương quy, mỗi thứ 10 g hoàng liên, hoàng bá, gừng tươi, mỗi thứ 5 g cam thảo Bắc 3 g. Sắc 3 nước, cô lại còn 250 ml, chia làm 4 lần uống trong ngày, uống 7-10 ngày.
- Xổ sán: Vỏ rễ lựu 40 g đại hoàng, hạt cau già, mỗi thứ 4 g. Làm bột thô sắc 3 lần, cô lại còn 250 ml. Tối hôm trước ăn nhẹ (cháo hoặc sữa), sáng hôm sau chia nước sắc làm 3 lần uống, mỗi lần cách nhau 30 phút. Khi đi ngoài, nhúng mông vào chậu nước ấm (37°C) để sán ra hết (nhớ bổ sung nước nóng để bảo đảm nhiệt độ luôn ở khoảng 35°C – 37°C).
- Tẩy giun đũa, giun kim: Vỏ quả lựu 15 g, hạt cau già 10 g. Sắc 3 lần rồi cô lại còn 100 ml, thêm đường vừa ngọt. Uống vào buổi tối trước khi đi ngủ (sau khi ăn 3 giờ), liên tục trong 3 ngày.
Chú ý: Chỉ dùng ấm đất hoặc nồi, xoong nhôm, thép không gỉ để sắc thuốc vì lựu có hàm lượng tanin cao. Vỏ quả lựu cần sao khô, giã cho dập thành bột thô rồi mới sắc để rút hết chất thuốc.
Nếu ăn nhiều quả lựu sẽ hại phổi, tổn răng. Khi dùng vỏ quả khô, vỏ thân, vỏ rễ khô thì phải bảo quản nơi khô ráo, không để lâu quá 2 năm. Người thể trạng hư yếu, phụ nữ có thai và trẻ em không nên dùng thuốc có lựu

Bài thuốc hay từ ổi

Lá ổi được dùng làm thuốc chữa tiêu chảy có kết quả tốt do có chứa nhiều tanin, giúp làm săn niêm mạc ruột, giảm tiết dịch ruột, giảm nhu động ruột đồng thời còn có tác dụng kháng khuẩn
Theo dược học cổ truyền, lá ổi có vị đắng sáp, tính ấm, công dụng tiêu thũng, giải độc, cầm máu. Đặc biệt, lá ổi chứa tinh dầu, trong đó có alpha-limonen, beta-sitosterol, axit maslinic, axit guajavalic. Trong lá ổi non và búp ổi còn có 7 – 10% tanin, khoảng 3% nhựa. Lá ổi được dùng làm thuốc chữa tiêu chảy có kết quả tốt do có chứa nhiều tanin, giúp làm săn niêm mạc ruột, giảm tiết dịch ruột, giảm nhu động ruột đồng thời còn có tác dụng kháng khuẩn.
Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất huyết, tiêu khát (đái tháo đường), băng huyết.

Ổi có thể dùng để chữa rất nhiều bệnh
Chữa tiêu chảy: Dùng búp ổi hoặc lá ổi non 12 – 20g (sao sơ), gừng nướng 10g hoặc củ riềng khô 10 – 12g, vỏ quýt khô 10 – 12g. Cho các vị vào ấm, sắc với 500ml nước, còn lấy 200ml, chia làm hai lần uống trong ngày trước bữa ăn. Có thể thêm đường cho dễ uống. Bài thuốc này dùng chữa các trường hợp tiêu chảy thông thường, nhất là tiêu chảy do lạnh kết quả rất tốt.
Chữa viêm dạ dày – ruột cấp tính: Lá ổi non 30g, cắt nhỏ, sao chung với một nắm gạo, sau đó cho 500ml nước vào, sắc còn 200ml, lọc lấy nước chia làm hai lần uống trong ngày vào lúc bụng đói.

Chữa bệnh zona (thường được gọi nôm na là giời leo): Lấy 100g búp ổi non rửa sạch, phèn chua 10g, muối 1g. Cho tất cả vào cối sạch giã nhỏ, thêm ít nước sạch vào trộn đều. Dùng nước thuốc này bôi lên chỗ đau.
Mới đây, các nhà khoa học thuộc Đại học Y dược Krupanidhi (Ấn Độ) phát hiện ra rằng, chất bột chiết xuất từ lá ổi có thể bảo vệ gan khỏi các tổn hại. Thử nghiệm trên loài chuột cho thấy, những con chuột được cho ăn chất bột chiết xuất từ lá ổi đã tránh được nguy cơ tổn thương ở gan do hóa chất gây ra, trong khi những con chuột không dùng thì gan bị hư hại nặng.
Giới chuyên gia tin rằng, các chất chống oxy hóa có trong lá ổi đã phát huy công dụng ngăn ngừa bệnh. Ngoài ra, nước sắc từ lá ổi có thể chữa chứng vàng da trong 3 ngày

Bài thuốc chữa bệnh từ chuối

 

Cây chuối còn gọi là ba tiêu, tên khoa học musa SPP thuộc họ chuối (Musaceae). Là loại cây được trồng khắp mọi miền nước ta, với nhiều giống chuối khác nhau như: chuối ngự, chuối tiêu, chuối hột, chuối mật…
Trong 100g chuối chín có: glucid 26,1g, protein 1,2g, lipid 0,3g, tro 0,8g, Ca 12mg, P 32mg, Fe 0,8mg, vitamin A (-caroten) 225μg, vitamin B1 0,03mg, vitamin C 14mg. Ngoài ra còn có Mg, Na, S, Zn…

Quả chuối
Xét về mặt dinh dưỡng, chuối có giá trị hơn cả khoai tây và tương đương với thịt. 100g chuối cung cấp cho cơ thể 100 kcal và dễ tiêu hóa. Mặt khác, trong chuối, hàm lượng kali (potassium) chiếm tỉ lệ rất cao, chứa nhiều loại đường thiên nhiên như: fructose, sucrose, glucose, cung cấp một năng lượng dồi dào cho cơ thể.
Ngoài ra, chuối còn là nguồn cung cấp fructooligosaccharides, một chất quan trọng để nuôi dưỡng những loại vi khuẩn có lợi trong đường ruột, giúp chức năng ruột hoạt động tốt hơn.
Phòng chữa cao huyết áp: hàng ngày cần ăn 3 lần, mỗi lần ăn từ 1 – 2 quả chuối chín. Cần ăn liền trong 2 tháng.
Chữa trị loét dạ dày: lấy quả chuối xanh phơi khô trong râm hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp rồi tán bột. Ngày uống 2 lần vào lúc không no cũng không đói lắm, mỗi lần 1 thìa canh hòa với nước ấm.
Trị hắc lào: dùng quả chuối xanh vừa mới bẻ trên buồng chuối, cắt ngang quả chuối để nhựa tiết ra thì chấm xát vào nơi hắc lào sau khi đã rửa sạch và lau khô. Ngày chấm xát 4 – 5 lần.
Trị ngứa da: dùng vỏ chuối tiêu sắc lấy nước rửa hàng ngày. Mỗi ngày rửa 2 – 3 lần.
Trị tay chân nứt nẻ: dùng chuối tiêu chín 1 quả (chín nhừ càng tốt), sau sấy nóng. Hàng ngày vào buổi tối rửa chân tay bằng nước ấm, rồi lấy chuối đã sấy nóng xát vào nơi chân tay bị nứt nẻ, làm liên tục nhiều lần sẽ khỏi.
Trị táo bón: hàng ngày ăn 250g quả chuối tiêu chín vào trước lúc đi ngủ.
Chữa sỏi thận: lựa quả chuối hột thật chín, lấy hột phơi khô, tán nhỏ nấu lấy nước uống; cho 7 thìa nhỏ (thìa cà phê) bột hột chuối vào 2 lít nước, đun nhỏ lửa khi còn 2/3 nước là được. Uống hàng ngày như nước trà, uống liền 2 – 3 tháng cho kết quả khá tốt.
Chữa đái tháo đường: đào lấy củ cây chuối hột, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước uống, dùng thường xuyên và lâu dài có tác dụng ổn định đường huyết. Vì củ chuối không nhiều và đào củ phức tạp, có thầy thuốc (ở Trung Quốc) đã nghiên cứu cải tiến: cắt ngang cây chuối hột, khoét một lỗ, đậy nilon lên, để nước cây chuối tiết ra đọng vào đó.
Lấy nước này cho người bệnh uống. Khi đoạn trên héo thì cắt thấp xuống phía dưới; một cây cắt ngang như thế dùng được nhiều lần. Mùa mưa nước chuối loãng thì uống nhiều hơn mùa nắng.
Điều trị theo cách này bệnh cũng thuyên giảm rõ rệt. Hoặc cây chuối có bắp đang nhú, cắt ngang gốc (cách mặt đất khoảng 20cm), lấy dao khoét một lỗ rỗng to ở thân chuối, để một đêm, sáng hôm sau múc nước từ lỗ rỗng (do thân chuối tiết ra) mà uống.
Phòng trị chứng béo phì: dùng món chuối nướng. Cách làm chỉ cần chuẩn bị một quả chuối tiêu đã chín, bóc vỏ cắt đôi ra. Sau đó rải tờ giấy bạc hoặc loại giấy thiếc chuyên dụng nướng thức ăn đặt chuối vào trong rồi gói lại.
Đặt gói chuối lên chảo đáy bằng, đun nhỏ lửa cho gói chuối không cháy. Nướng độ 2 phút khi ngửi thấy mùi chuối chín thì lật sang mặt sau và cũng nướng trong vòng 2 phút là được. Một món ăn thơm ngon, bổ dưỡng.
Món chuối tiêu nướng có thể làm sạch máu, giúp vi khuẩn có ích trong ruột tăng, mặt khác là do chuối tiêu nướng có vị đậm, ăn xong thường người ta không thèm của ngọt nữa nên có công hiệu làm giảm béo, kể cả sau sinh.
Chữa bạch đới ở nữ: lấy rễ chuối tiêu 250g, thịt lợn 120g. Cho hai thứ vào hầm lấy nước uống trong ngày.
Chữa tóc rụng nhiều: dùng nước nhựa trắng trong của cây chuối tiêu (ba tiêu du) để hàng ngày bôi vào vùng da đầu (chân tóc), sẽ có tác dụng ngăn ngừa tóc rụng và có thể giúp các vùng da bị tóc rụng sẽ mọc trở lại. Mỗi ngày cần bôi 30ml nhựa này.
Giải độc các thực phẩm: kinh nghiệm cho thấy sử dụng chuối xanh thái mỏng ăn chung với các loại rau sống, thịt, cá có thể giải được chất độc có trong các thực phẩm này.
Chữa rong kinh: lấy chuối tiêu xanh 7 quả, gọt vỏ xắt mỏng, phơi khô, sao cháy, tán bột. Dùng nhọ nồi (cạo ở đít nồi đun than, củi) 15g, sau trộn chung 2 thứ cất sử dụng dần. Mỗi lần uống 2 muỗng cà phê uống với nước nóng vào khi bụng đói. Ngày uống 3 lần.

Bài thuốc chữa bệnh hiệu quả từ cà tím

Cà tím thuộc họ cà còn có tên là cà dái dê, cà tím dài, cà dê (khác với cà bát vỏ tím). Cà tím không chỉ là một món ăn thông thường, nó còn là một loại rau có chứa nhiều dinh dưỡng có tác dụng giảm bớt lượng cholesterol trong máu đồng thời còn rất công hiệu trong việc điều trị nhiều bệnh khác.
Theo Đông y, cà tím có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc




Cà tím


Một số công dụng chữa bệnh của cà tím:
Cà tím rất giàu dinh dưỡng, trong thành phần của cà tím có 92% nước, 5,5% glucid, 1,3% protid, 0,2% lipid. Các khoáng chất (tính theo mg/100g) gồm: kali 220, phốt pho 15, magiê 12, calcium 10, lưu huỳnh 15, clor 15, sắt 0,5, mangan 0,2, kẽm 0,2, đồng 0,1, iod 0,002. Các vitatmin B1, B12, PP rất ít, nhiều chất nhầy. Vì lượng chất nhầy này mà cà tím còn có tác dụng hỗ trợ rất điều trị bệnh dạ dày. Chính vì vậy mà người Hàn Quốc thường dùng cà tím phơi khô làm thuốc giảm đau, trị sưng khớp, loét dạ dày còn người Nigeria thường dùng cà tím để chữa đau bụng do tiêu hóa.
Trong cà tím còn chứa nightshade soda, một chất có tác dụng chống ung thư theo các chuyên gia Nhật Bản thì trong nước ép cà tím có nhiều hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư dạ dày.
Đề phòng các bệnh về gan và thận, các bác sỹ khuyên nên ăn một thìa cà tím nấu mỗi ngày
Ngoài ra, cà tím cũng có tác dụng lợi tiểu, chống phù nề, đàm thấp, hỗ trợ trong điều trị bệnh thận. Các thực nghiệm trên gia súc cho thấy, nước ép cà tím giúp ngăn chặn bệnh động kinh. Do đó, người dễ bị kích động tâm thần được khuyên là nên uống 1 ly nhỏ nước ép cà tím mỗi khi thấy thần kinh căng thẳng.
Chữa viêm gan vàng da: Cà tím 300g, gạo 50g. Cà tím cắt nhỏ nấu với gạo thành cháo, ăn liên tục trong vài ngày.

Chữa viêm phế quản cấp, táo bón
: Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà thái dọc, tỏi và gừng nghiền nhuyễn. Tất cả trộn với nước tương, dầu, muối, đường, chưng cách thủy để ăn.
Chữa bệnh cao huyết áp: Lấy vỏ cà tím hong khô và nghiền nhỏ. Mỗi ngày nên uống một thìa cà phê trước khi ăn.
Chữa đi tiêu, tiểu ra máu: sắc cà tím cả cuống để uống.
Muốn răng và lợi vững chắc nên thực hiện liệu pháp sau: 1 thìa vỏ cà tím sấy khô, nghiền nhỏ, đổ thêm nước và đun sôi lấy nước cốt. Sau đó, pha thêm một thìa nhỏ muối và súc miệng.
Cà tím có nhiều chất xơ và cho ít năng lượng, nên đã trở thành một loại thực phẩm chức năng dành cho người có bệnh đái tháo đường. Qua công trình nghiên cứu của Viện Đại học Massachusetts (Mỹ), chất chiết từ Cà tím có tác dụng ức chế men α – amylase tuỵ và α – glucosidase là 2 men có tác dụng thoái biến tinh bột và chuyển hoá thành glucose. Do đó, Cà tím có vai trò trong phòng bệnh đái tháo đường vì đã làm chậm quá trình tạo đường và hấp thụ đường, hạn chế được lượng đường huyết sau bữa ăn.
Cà tím lại chứa nhiều kali nên đã giúp hạ huyết áp cao
Theo Liz Applegate, Cà tím có tác dụng tốt cho tim hoạt động. Các nhà khoa học đã xác minh chất nasunin trong Cà tím có khả năng hạ thấp lượng cholesterol trong máu. Cà tím lại chứa nhiều kali nên đã giúp hạ huyết áp cao.
Phòng chống ban tía ở người già: ở tuổi 60 – 70, người già thường xuyên bị tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm trên mặt, tay, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn Cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.

Rau ngổ - RAU OM trị sỏi thận bằng

 

Rau ngổ còn gọi là cây rau om, ngổ trâu, thường mọc hoang ở ruộng nước, vùng lầy, có tác dụng trị sỏi thận, rắn cắn, đầy hơi, sổ mũi, viêm tấy đau nhức…
Theo đông y, rau ngổ có tính mát, vị chua, cay, mùi thơm, có tác dụng kháng viêm, lợi tiểu, giải độc do ngộ độc thức ăn, làm giãn cơ ruột, giãn mạch, tăng lọc ở cầu thận nên dùng để trị sỏi thận rất tốt. Ngoài ra, rau ngổ được dùng để trị chứng tiểu ra máu, băng huyết, bệnh lở ngứa ngoài da do phát ban, trị rắn cắn…

Rau ngổ
Trị viêm tấy đau nhức: lấy 1 nắm rau ngổ tươi rửa sạch, giã nát, đắp vào nơi thương tổn rất công hiệu.
Trị ho, sổ mũi: lấy 15 – 30 gr rau ngổ tươi, rửa sạch, sắc kỹ lấy nước uống hằng ngày.
Trị đầy hơi, tức bụng, ăn không tiêu: lấy rau ngổ tươi rửa sạch, mộc hương nam (mua ở các hiệu thuốc nam). Sắc 2 thứ trên với 1.000 ml nước còn 250 ml thì chia làm 2 lần, uống hết trong ngày.
Trị sỏi thận: lấy 20 – 30 gr rau ngổ tươi, rửa sạch, giã nát. Cho nước sôi để nguội vào lọc lấy nước uống hằng ngày. Kiên trì thực hiện bài thuốc này sẽ cho kết quả tốt.
Trị rắn cắn: lấy 15 – 20 gr rau ngổ tươi, 25 gr kiến cò, giã nát 2 vị trên, thêm 20 – 30 ml rượu trắng, chắt lấy nước uống, còn bã đắp vào vết cắn. Hoặc lấy 20 – 40 gr rau ngổ khô, sao vàng, sắc lấy nước uống 4 – 5 lần liền.

Trong y học cổ truyền, rau ngổ được dùng để chữa trị sạn thận, làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng.
Một số nghiên cứu dược học tại Việt Nam cho thấy rau ngổ có độc tính không đáng kể và độ sử dụng an toàn khá cao, có tác dụng lợi tiểu, giãn cơ, chống co thắt.
Tác dụng giãn cơ làm mất cơn đau bụng, giãn mạch, tăng lọc ở cầu thận, tăng lượng nước tiểu làm cho viên sỏi bị đẩy ra ngoài, nhờ đó bệnh nhân có thể tiểu ra những viên sỏi nhỏ.

Rau ngổ thường dùng để chữa sỏi thận, tiểu ra máu, băng huyết. Theo y học Vệ đà của Ấn Độ, rau ngổ có tác dụng sát trùng, thông mật, lợi tiểu, thông tiện, kích thích tiêu hóa, chống nôn, tăng tiết sữa cho sản phụ sau sinh, làm hạ sốt. Rau ngổ còn chữa chứng chán ăn, khó tiêu và tiểu són.

Rau ngổ được ghi nhận có tác dụng giải độc, tiêu sưng nên dùng chữa rắn độc cắn, vết cắn sưng phồng. Lấy khoảng 20-40 gr sao vàng sắc nước uống, còn đắp lá tươi giã nát lên vết thương sau khi rửa sạch. Y học Trung Quốc cũng ghi nhận bài thuốc này chữa các bệnh ngoài da, herpes mảng tròn, nấm ngứa..., uống trong và kết hợp rửa ngoài.
Để chữa sổ mũi, ho, ho gà, 15-30 gr rau ngổ sắc nước uống. Chữa sạn thận, 20-30 gr tươi giã nhỏ, thêm nước vào vắt lấy nước uống.
Người dân Malaysia và Indonesia cũng dùng rau ngổ làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng, hoặc giã nát đắp lên vết thương, vết loét. Ngày dùng 10-16 gr dưới dạng thuốc sắc hay viên hoàn.
Lưu ý, phụ nữ có thai không nên ăn nhiều rau ngổ vì tác dụng giãn cơ phủ tạng có thể gây sẩy thai. Thân rau ngổ có nhiều lông và hay mọc ở nơi ẩm ướt đầm lầy dễ bị nhiễm khuẩn nên cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến ngộ độc nếu rửa không kỹ.

Bài thuốc hay trị bệnh từ cây lá lốt

Lá lốt có tên khoa học Piper lolot C.DC. thuộc họ hồ tiêu, cây mềm mọc hoang ở nơi ẩm thấp trong rừng núi, và cũng được trồng ở nhiều nơi lấy lá làm gia vị trong nấu ăn và còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh.
Lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt. Theo đông y, lá lốt có vị nồng, tính ấm, có công dụng ôn trung (làm ấm bụng), tán hàn (trừ lạnh), hạ khí (đưa khí đi xuống) và chỉ thống (giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh, chứng ra nhiều mồ hôi ở tay chân, mụn nhọt lâu liền miệng…

Lá lốt
Một số bài thuốc trị bệnh hay từ cây lá lốt

Chữa đau nhức xương khớp
Bài 1: Dùng 5-10g lá lốt phơi khô, hay 15-30g lá tươi, sắc với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bài 2: Lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, liều lượng bằng nhau (khoảng 15g khô mỗi loại), sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày.
Bài 3: Lá lốt 20g, thiên niên kiện 12g, gai tầm xoong 16g, tất cả sắc với 400ml, còn 100ml dùng uống trong ngày. Có thể dùng một trong các bài thuốc này, sắc uống liên tục 7-8 ngày sẽ có tác dụng tốt.
Chữa đau răng
Lấy rễ lá lốt rửa sạch, giã nát với mấy hạt muối, ép lấy nước, dùng bông sạch tẩm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi xúc miệng bằng nước muối. Ngày tẩm thuốc 3 – 4 lần, làm liên tục 1 – 2 ngày răng đau sẽ khỏi hoặc giảm đau rõ rệt.
Chữa đầu gối sưng đau
Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau.
Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng
Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.
Chữa bệnh phụ khoa (các viêm nhiễm ở vùng âm đạo, ngứa, ra khí hư)
Lá lốt 50g, nghệ 40g, phèn chua 20g, đổ nước ngập lên mặt thuốc 2 đốt ngón tay, đun sôi, bớt lửa giữ cho sôi lăn tăn 10-15 phút, chắt lấy 1 bát, gạn lấy nước trong dùng rửa âm đạo. Phần còn lại tiếp tục đun sôi dùng để xông hơi vào âm đạo, có thể xông nhiều lần.
Chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân
Dùng 30g lá lốt tươi cho vào 1 lít nước nấu sôi, cho thêm ít muối, để nguội dần dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối.
Đau bụng do lạnh
Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.
Chữa phù thũng do thận
Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
Chữa lỵ: Lấy 1 nắm nhỏ lá lốt, sắc với 300ml nước, dùng uống.
Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay
Đồng bào Mường có kinh nghiệm lấy 1 nắm thật to lá lốt, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống làm một lần. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi vài lần rồi vớt bã để riêng. Khi nước âm ấm thì dùng rửa sạch tổ đỉa. Lau khô rồi lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày là khỏi.