Tuesday, June 26, 2012

Măng cụt, vị thuốc quý


Cây măng cụt còn gọi là sơn trúc, có tên khoa học Garcinia mangostana L., thuộc họ bứa (Clusiaceae), là loại trái cây miền nhiệt đới được trồng nhiều nơi ở miền Nam nước ta. Trái măng cụt (sơn trúc tử) ăn khá ngon, đồng thời là vị thuốc quý.
Theo các thầy thuốc, trong “cơm” trái măng cụt có chứa hoạt chất polyphenol là xanthon có tác dụng chống ôxy hóa, giúp làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể; kháng nấm: Xanthon có đặc tính kháng nấm và kháng vi khuẩn; kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể, kháng dị ứng, nhất là những dị ứng xảy ra trong ruột ; ức chế những tế bào ung bướu, nên có ích trong việc chống ung thư; giúp giảm đau, được dùng để điều trị những chứng đau, viêm sưng, làm hạ sốt; có tác dụng làm giảm cholesterol xấu trong cơ thể, nên rất có ích cho những người muốn giảm cân.
Vỏ trái măng cụt chứa từ 7 - 12% tanin, nhựa và chất đắng. Trong dân gian thường sử dụng vỏ trái măng cụt để làm thuốc với tác dụng sát khuẩn, làm săn da, cầm tiêu chảy và kiết lỵ. Ăn trái măng cụt có tác dụng chống viêm và ngăn ngừa khối u hiệu quả và có thể ngăn chặn các bệnh như tiểu đường, bệnh tim, Alzheimer và các bệnh mãn tính khác.
Sau đây là những bài thuốc từ vỏ trái măng cụt:
- Trị tiêu chảy, kiết lỵ: Lấy 10 cái vỏ trái khô cho vào nồi nấu sôi với một lít nước cho đến khi còn khoảng nửa lít, chia hai - ba lần uống trong ngày.
- Trị tiêu chảy: Vỏ trái măng cụt khô 20g, vỏ rộp cây ổi 12g. Sắc với 700ml nước, còn 300ml, chia làm hai lần uống trong ngày.
- Trị kiết lỵ: Vỏ trái măng cụt khô 20g, hạt mùi (ngò) 4g, tiểu hồi 4g (hoặc hạt thìa là 5g). Sắc uống trong ngày.

Mướp hương chữa tắc sữa


Mướp hương có tên khoa học là Luffa eylindrica (L.) M.J.Roem, thuộc họ Bí (Cucurbitaceae) được trồng ở khắp nơi để lấy quả làm thức ăn và các bộ phận khác dùng để chữa bệnh. Gọi là mướp hương là do quả mướp thoang thoảng hương nếp như mùi lá dứa thơm. 
Theo đông y, mướp hương vị ngọt, tính bình; có tác dụng làm điều kinh (phụ nữ kinh nguyệt quá nhiều nên ăn mướp xào với tôm cả vỏ), ngừng bạch đới, bình can ngưng phong, làm mát, nhuận da, thông đại tiểu tiện; thường dùng để chữa các chứng bệnh như: Sốt cao phiền khát, viêm họng, viêm phế quản, trĩ, bạch đới, viêm đường tiết niệu, sản phụ sữa không thông, táo bón (trái mướp nấu canh ăn).
Quả mướp nấu canh ăn hằng ngày có tác dụng nhuận tràng và làm dịu đau (chính là do chất nhày chứa với hàm lượng cao trong quả). Quả mướp non ninh với chân giò hoặc móng giò lợn là thuốc tăng tiết sữa và làm máu lưu thông; xơ mướp được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là ty qua lạc, có vị ngọt dịu, tính bình, có tác dụng cầm máu, thông kinh lạc, chống co thắt, thúc sởi, lợi tiểu. Thân cây mướp: Lấy từ mặt đất trở lên độ 1m, chặt nhỏ, đốt tồn tính, tán mịn, uống mỗi lần 10g với ít rượu chữa viêm xoang mũi, chảy nước mũi và có mùi hôi.
 Lá mướp (dùng lá bánh tẻ), thu hái quanh năm, để tươi hoặc phơi khô. Dược liệu có vị đắng, chua, tính hơi lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, chống viêm, giảm ho, giải độc, tiêu thũng…
Dưới đây là tác dụng của mướp
- Viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm bể thận: 200g mướp, nấu nhừ cho ít mật ong mà ăn, ngày ăn 2 lần.
- Chữa viêm họng: Lá mướp hương rửa sạch, giã nhỏ với ít muối, thêm nước, gạn uống làm một lần. Chữa ho, hen kéo dài: Lá mướp hương 15g nấu nước uống hoặc chế biến dưới dạng cao lỏng 1/1, mỗi lần uống 0,5ml.
- Chữa phù thũng: Lá mướp hương 15g phối hợp với cây cứt lợn 10g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Dùng 5 – 7 ngày.
- Chữa viêm xoang mũi, chảy nước mũi và có mùi hôi: Thân cây mướp: Lấy từ mặt đất trở lên độ 1m, chặt nhỏ, đốt tồn tính, tán mịn, uống mỗi lần 10g với ít rượu.
- Chữa đau lưng, đau hông do thấp nhiệt: Thân cây mướp 30g, phối hợp với xa tiền tử 30g, hổ trượng 15g, hoàng bá 10g, sắc nước uống ngày 1 thang.
- Chữa sốt cao, đau đầu: Hoa mướp 20g, hạt đậu xanh 100g. Đậu xanh để cả vỏ, ninh nhừ rồi lấy khoảng 400ml nước cốt. Vớt xác đậu xanh ra, cho hoa mướp đã thái nhỏ vào, đun sôi trong 5 – 10 phút. Để nguội. Chắt lấy nước uống làm 2 – 3 lần trong ngày.
- Chữa băng huyết: Đài của quả mướp hương 1 – 2 cái phối hợp với huyết dụ 2 – 3 lá, rễ cỏ tranh 20g, rễ cỏ giày 20g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
- Chữa kinh nguyệt không thông, không đều: Dùng 1 trái mướp khô đốt tồn tính, tán bột, uống ngày 10g vào lúc sáng sớm (nếu được thì uống với 1 chút rượu).
- Chữa trĩ ra máu, rong kinh, băng huyết, kiết lỵ ra máu: Xơ mướp đốt tồn tính, tán bột, uống mỗi ngày 4 – 8g chia làm 2 lần chiêu với nước ấm.
- Chữa tắc tia sữa: Xơ mướp 1 cái, gai bồ kết 10 cái, hành tươi hoặc phơi khô 1 củ. Tất cả băm nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. Dùng 2 – 3 ngày. Kết hợp xoa nắn vú cho thông tia sữa.
- Chữa hen: Xơ mướp 20g băm nhỏ, sao; hạt đay quả dài 12g, giã dập, sao. Trộn đều, sắc uống lúc nóng. Ngày hai lần. Dùng 2 – 3 ngày.
- Chữa bế kinh: Xơ mướp đốt tồn tính, tán nhỏ, trộn với tiết chim bồ câu trắng làm thành bánh, rồi phơi khô, tán nhỏ. Mỗi lần uống 8g với rượu vào lúc đói (Nam dược thần hiệu).
- Chữa sởi (làm sởi mọc nhanh và mọc đều, hạn chế các biến chứng): Xơ mướp 20g, kinh giới 12g, bạch chỉ 12g, kim ngân 12g, cỏ mần trầu 8g, cam thảo nam 4g. Tất cả thái nhỏ, sao vàng, sắc uống làm hai lần trong ngày.
- Chữa bệnh zonal: Dùng lá non vò nát, chấm nhẹ vào vùng mẩn nốt, nếu bị bên trong cơ thể thì dùng 10 - 15g xơ mướp sắc uống hằng ngày.
- Chữa thông sữa, lợi sữa: Dùng 1 trái mướp tươi, 10g muối ăn, nấu sôi với 1 lít nước, cho sản phụ uống đến khi sữa ra nhiều. Hoặc nấu mướp với chân giò heo để ăn.

Thầu dầu tía chữa sa tử cung


Thầu dầu tía còn gọi là cây đu đủ tía, tên khoa học là Ricinus communis L thuộc họ thầu dầu (Euphorbiacae). Cây thầu dầu tía được sử dụng lá tươi để đắp lên trán và 2 bên thái dương để chữa đau đầu do cảm sốt. Hạt thầu dầu được ép thành dầu để làm thuốc nhuận trường, thông tiện, trong các chứng táo bón của trẻ em hay phụ nữ có thai, bệnh nhân mổ và sản phụ. Thuốc có tác dụng tẩy nhẹ.
Theo GS. Đỗ Tất Lợi thì dầu thầu dầu không gây hiện tượng xót trong ruột, chỉ làm ruột non và ruột già co bóp nhiều hơn, mà không gây ảnh hưởng đến tiểu khung, bởi vậy được sử dụng cho phụ nữ đang mang thai là rất tốt để chống táo bón mà không gây ra nguy hiểm gì.
Người ta còn sử dụng lá thầu dầu để trị liệu các chứng bệnh ngoài da như: Da viêm mủ, eczema, mẩn ngứa, ung nhọt, hay các bệnh viêm tuyến vú, viêm đa khớp, diệt dòi, diệt bọ gậy. Rễ cây thầu dầu còn dùng để chữa phong thấp, đau nhức khớp, đòn ngã sưng đau, sài uốn ván, động kinh, tâm thần phân liệt... Lá và rễ cây thầu dầu thường được sử dụng với liều trung bình từ 30 – 60g tùy theo chứng bệnh. Dùng ngoài được lấy lá giã đắp... Người ta cũng đã xác định được các hoạt chất chứa trong hạt thầu dầu.
Cụ thể là hạt thầu dầu đã phơi khô của cây thầu dầu thấy chứa một protein rất độc có tên ricin, chiếm tỷ lệ 3 – 5% trong hạt. Nhưng sau khi ép dầu thì chất này lại nằm trong khô dầu nên không sử dụng được khô dầu. Cũng theo GS. Đỗ Tất Lợi thì chất độc ricin có trong hạt thầu dầu này chỉ cần liều 0,002mg cho 1kg thể trọng đã giết chết một con thỏ. Hay chỉ cần 3g khô dầu cũng đủ giết chết một con bê nặng 100kg. Hoặc chỉ cần tiêm 0,003mg chất độc ricin cho 1kg thể trọng chó cũng đủ giết chết nó.
Với người, 3mg tiêm dưới da hay 180mg uống tức chỉ 1 hạt thầu dầu cũng đủ gây nôn mửa, 3 – 4 hạt là đủ làm chết trẻ em, 14 – 15 hạt là giết chết người lớn. Cơ chế tác dụng gây độc của ricin là làm vón hồng cầu và bạch cầu lại.
Tuy nhiên, tiêm chất ricin đã được đun lâu có thể gây miễn độc. Thanh huyết miễn độc antiricin để lâu cũng có thể làm giảm bớt hiệu lực. Do có độc tính như vậy nên trong Đông y người ta không sử dụng hạt thầu dầu làm thuốc uống trong, mà chỉ sử dụng làm thuốc đắp ngoài. Tác dụng của độc chất này giống như vi khuẩn nên có thể gây miễn dịch, nghĩa là khi cho súc vật ăn với liều nhỏ, làm nhiều lần, sau đó lại cho chúng ăn tăng lên với liều khá cao mà súc vật không gây chết.
Dưới đây là một số phương thuốc chữa trị từ cây thầu dầu tía
* Chữa đau đầu do cảm: Lấy lá thầu dầu tía đắp lên trán và 2 bên thái dương, một lát sau sẽ thấy đầu nhẹ giảm hay khỏi đau (kinh nghiệm trong dân gian).
* Làm thuốc để tẩy nhẹ: Lấy dầu hạt thầu dầu 10-30g, uống vào lúc đói, chỉ cần sau 3-4 giờ là sẽ đi tiêu nhiều lần mà không bị đau bụng. Nếu muốn tẩy mạnh chỉ cần tăng liều dầu hạt thầu dầu lên 30-50g thì sẽ đi đại tiện kéo dài 5-6 giờ liền (Theo GS. Đỗ Tất Lợi).
* Chữa sa tử cung và trực tràng: Lấy hạt thầu dầu giã nát sau lấy đắp lên đầu.
* Sinh khó hay sót nhau: Lấy hạt thầu dầu 14 hạt, giã nát đem rịt vào lòng bàn chân cả 2 bên, nhưng khi đã sinh xong hay nhau sót đã ra hết phải tháo bỏ ngay thuốc ra và rửa sạch lòng bàn chân nơi đã đắp thuốc.
* Chữa liệt thần kinh mặt: Lấy hạt thầu dầu giã nát đắp vào phía mặt nơi đối diện (theo TS. Võ Văn Chi).

Thịt rắn mối – món ăn vị thuốc


Rắn mối là con vật rất hiền lành nhưng chưa hẳn ai cũng dám bắt chúng. Người không quen, nhìn chúng đã khiếp sợ huống chi là ăn thịt. Nhưng ai đã một lần ăn thịt rắn mối đảm bảo không thể nào quên bởi cái hương vị thơm ngon, đậm đà, bổ dưỡng.
ĐBSCL rắn mối nhiều, nhất là vào những tháng 11-12 sau khi nước rút. Rắn mối con lớn nhất bằng ngón chân cái, nặng khoảng 100-150 gram, mỗi con dài khoảng một gang tay. Rắn mối có lớp vảy óng ánh trên mình, chạy rất nhanh khi gặp nguy hiểm. Đây cũng là loài nhạy bén trong cách săn mồi, vì chúng có cái mũi và lưỡi rất thính. Gọi là rắn mối vì thức ăn khoái khẩu của chúng là những con mối sống trong các tổ mối và gốc cây mục.
Hiện nay, nhiều người thích thưởng thức các món ăn mang nguồn gốc thiên nhiên. Trong đó, có rắn mối đã được bàn tay khéo léo của con người chế biến ra những món ăn hết sức độc đáo mà đơn giản. Rắn mối có thể chế biến được rất nhiều món ngon miệng. Từ những món đơn giản đến món ăn cầu kỳ như: rắn mối nướng than, chiên giòn, cà ri, xào sả ớt, cháo rắn mối, rắn mối nướng mọi, rắn mối luộc mẻ, khô rắn mối, rắn mối nướng sa tế… Người ta tìm ăn rắn mối như một thực phẩm thượng hạng.
Rắn mối bắt được đem về vẫn còn sống, đem nhấn xuống nước khoảng 20 phút làm chúng bất tỉnh, rồi nướng qua lửa rơm, làm như vậy đuôi của chúng không bị rụng. Nướng rắn mối xong ta dùng một que tre cạo sạch lớp vảy khét rồi đem đi mổ bụng. Công đoạn kế tiếp là bắc nước lên để luộc rắn mối độ khoảng 15-20 phút. Rắn mối chín vớt ra đĩa dùng tay xé lấy thịt loại bỏ xương. Thịt rắn mối trông giống như thịt gà. Để cho thịt rắn mối thơm ngon hơn người ta đem thịt xào sơ qua với hành tỏi, thịt vàng ươm trông rất hấp dẫn. Kế tiếp ta dùng nước luộc rắn mối bỏ gạo đã rang sẵn nấu đến khi cháo nhừ và nêm gia vị cho vừa ăn. Khi cháo đã chín múc ra tô, đừng bỏ qua phần gia vị quan trọng là phi tỏi thật thơm, rắc ít tiêu để ăn cùng với cháo.
Theo lời ông bà truyền lại, thịt rắn mối là một vị thuốc bổ, có giá trị dinh dưỡng rất cao. Trẻ con đêm ngủ thở khò khè, cho ăn thịt rắn mối sẽ khỏi ngay. Ăn thịt rắn mối còn giúp da mặt phụ nữ thêm mịn màng.

Thuốc từ đu đủ đực


Đu đủ có nhiều giống khác nhau, song với từng giống cũng có tới 3 loại đó là đu đủ cái, đu đủ đực (loại này chỉ có hoa đực thành dải dài, không kết quả) và đu đủ lưỡng tính là loại ra hoa thành dải dài, sau đó hoa kết quả nhưng bé như quả cau không lớn được, cả ba loại này đều có thể sử dụng làm thuốc trị nhiều bệnh; nhưng ở đây xin chỉ nói đến các loại thuốc được sử dụng từ đu đủ đực để mọi người cùng tham khảo.
* Trị ho cho trẻ em: Lấy hoa đu đủ đực (loại vừa mới chớm nở) từ 10 - 20g. Sau trộn với đường kính hoặc mật ong càng tốt. Đem hấp cơm trong 15 đến 20 phút là được. Lấy ra dùng thìa nghiền nát nhuyễn, rồi chia ra 2 - 3 lần cho trẻ uống trong ngày. Chiêu cùng với nước sôi để nguội. Vài ba ngày sẽ khỏi.
* Ho kèm theo mất tiếng (viêm họng thanh quản): Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Để tươi rồi nghiền nát cả 3 thứ, sau đó hòa với 20ml nước lọc, cho thêm chút mật ong hoặc đường kính cho uống 2 - 3 lần trong ngày. Cần uống như vậy 2 - 3 ngày liền.
* Ho nhiều do viêm họng: Hoa đu đủ đực 15g, xạ can 10g, mạch môn đông (củ) 10g, húng chanh (tần dày lá) 10g. Cho tất cả các vị trên (đã rửa sạch) cùng chút muối ăn vào bát và đem hấp cơm chừng 15 - 20 phút. Lấy ra nghiền nát, rồi chia ra cho ngậm trong 2 - 3 lần trong ngày, cần nuốt từ từ cho thuốc tác dụng trực tiếp vào nơi họng viêm.
* Trị ho gà: Hoa đu đủ đực 50g, dây tơ hồng 50g, rau má 35g, lá xương sông 20g, lá hẹ 15g. Tất cả sắc với 1.500ml nước, còn lại 500ml, thêm 75g đường kính, ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 100ml.
* Chữa đái rắt, đái buốt, đau niệu đạo, nước tiểu ít và đỏ: Hoa đu đủ đực (hoặc quả của cây đu đủ đực lưỡng tính) 40g, lá bạc thau 60g, đậu đen 40g, phác tiêu 4g. Sắc lấy nước đặc, chia 3 lần uống vào lúc đói bụng.
* Chữa tưa lưỡi ở trẻ: Lấy quả đu đủ đực thái nhỏ phơi khô, tán bột mịn, cùng với gốc cây mây (lấy chỗ mọc khô ráo), rồi đốt thành than, tán bột. Trộn hai loại bột này với nhau với tỷ lệ 3 phần bột quả đu đủ đực, 1 phần bột gốc mây. Sau đó lấy tăm bông chấm thuốc bôi hàng ngày đánh trên lưỡi trẻ bị tưa.
* Chữa rắn cắn: Rễ đu đủ đực 20g, lá xuyên tiêu 10g, hồng bì 5 hạt, tất cả giã nhỏ cho nước vào trộn đều gạn nước cho người bị rắn cắn uống. (Lưu ý chỉ sử dụng kết hợp hay đơn độc khi điều kiện của y tế không có, vì có những loại rắn cực độc có thể tử vong ngay chưa kịp đưa đến cấp cứu, trị liệu).

Cá chim trị thận hư, liệt dương


Giống như các loài, cá chim cũng có nhiều tên gọi khác như Thoa phiến ngư, Xương ngư, Bình ngư… Tên khoa học Stomateoides argenteus Euphrasen, họ cá chim trắng (Stomateoidae). Cá chim sống ở các vùng biển nước ta. Ngoài ra còn có loại cá chim nước ngọt có nguồn gốc Nam Mỹ được nuôi phổ biến tại nhiều nơi.
Cá chim thịt ngon và bổ, được nhân dân ta coi là đặc sản hàng đầu trong các loài cá biển (chim, thu, nụ, đé). Biển nước ta có nhiều loại cá chim như cá chim trắng, cá chim đen, cá chim gai, cá chim Ấn Độ là loại cá hai vây Momeidea... nhưng gặp phổ biến và có giá trị hơn cả là loại cá chim trắng và đen.
Như đã nói, ngoài các loại cá chim biển, hiện nay ở nước ta còn có loại cá chim nước ngọt. Cá chim nước ngọt có tên khoa học là Colossoma brachypomum, có nguồn gốc tại vùng Amazon, Nam Mỹ, được nhập vào nước ta từ năm 1998. Cá này cho thịt ăn ngon, lại lớn nhanh gấp 3 – 4 lần các loài cá khác, hiện đang được nuôi ở nhiều địa phương. Cá chim trắng nước ngọt có màu xám bạc hoặc màu ánh bạc hơi xanh, hàm trên và hàm dưới của cá đều có răng khá sắc có tác dụng cắn xé thức ăn (cá nhỏ, tôm, tép...). 
Thịt cá chim, dù là cá chim trắng, chim đen hay chim trắng nước ngọt đều là loại thực phẩm ngon và nhiều chất dinh dưỡng, giàu omega - 3, nhiều protein có lợi cho sức khỏe. Cá chim thường được bán trên thị trường dưới các dạng đông lạnh nguyên con, phi lê đông lạnh tươi, cắt khúc đông lạnh tươi.
Đông y cho rằng, cá chim có vị ngọt mặn, tính hơi ôn, đi vào các kinh tỳ & thận. Có công hiệu kiện tỳ, dưỡng huyết, bổ vị cố tinh, nhu lợi cân cốt. Được dùng trong các trường hợp kém ăn, cơ thể suy nhược, hồi hộp, đánh trống ngực (tâm quí), đau đầu hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, quên lẫn, đau nhức, mỏi mệt, tê bại vùng cổ, thắt lưng và tay chân. Liều dùng trung bình từ 200 – 250g/ ngày dưới dạng món ăn như nấu, xào, hầm, om, nướng hay chiên rán.
Dưới đây xin giới thiệu một số món ăn trị bệnh từ cá chim để cùng tham khảo hay ứng dụng mỗi khi cần.
* Trị phong thấp, thoái hóa xương khớp, đau nhức chân tay, lưng đau gối mỏi, yếu: Dùng món canh cá chim hạt dẻ gồm cá chim 250g, hạt dẻ 15 – 20 hạt. Làm sạch cá, hạt dẻ đập dập bỏ vỏ, cho gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
* Trị thận hư, liệt dương, di tinh: Dùng canh ngài tằm cá chim gồm cá chim 250g, ngài tằm 20 con, làm cá sạch cho cùng ngài tằm, nêm gia vị vừa đủ nấu thành canh ăn trong bữa cơm ăn 7 ngày.
* Trị rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy do tỳ vi hư nhược, thiếu máu do huyết hư thiểu dưỡng: Dùng canh “xương ngư nhị bạch” gồm cá chim 250g, Bạch truật 15g, Bạch thược 15g. Sắc thuốc lấy nước bỏ bã cho cá chim đã sạch, cắt khúc nấu nêm gia vị vừa đủ, ăn trong ngày cùng bữa cơm.
* Trị tiêu hóa kém, chán ăn, gầy yếu: Dùng canh cá chim đậu trắng gồm cá chim 250g, đậu trắng hạt to 30g. Làm sạch cá cắt khúc cho đậu và gừng tươi đập dập, nấu thành canh, them hành sống và gia vị vừa đủ, ăn trong ngày.
* Chữa trị các chứng đau đầu hoa mắt chóng mặt do huyết hư, tim hồi hộp, mất ngủ, suy nhược cơ thể: Dùng món cá chim hầm sâm quy thục hoài sơn gồm cá chim 250g, đảng sâm, đương quy, thục địa mỗi vị đều 15g, sơn dược 20g. Các vị thuốc sắc lấy nước bỏ bã, cho cá chim cắt khúc vào nước thuốc hầm chín ăn trong ngày.
Lưu ý không dùng cho người bị cao mỡ máu, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, và không ăn nhiều.

Diếp cá chữa trĩ


Dấp cá còn gọi là diếp cá, trấp cá, gọi theo tiếng Hán là ngư tinh thảo. Đây là loại cây mọc hoang được trồng để làm rau gia vị. Dấp cá được Đông y dùng để chữa nhiều bệnh.
Diếp cá là dạng cây cỏ, cao 20-40 cm. Thân màu lục hoặc đỏ tía. Lá mọc so le, hình tim, có bẹ, khi vò có mùi tanh như cá. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc vàng nhạt, họp thành bông có 4 lá bắc màu trắng trông như một chiếc hoa riêng lẻ. Hạt hình trái xoan nhẵn.
Cây mọc trên đất ẩm trong thung lũng, ven suối, bờ mương. Phân bố khắp các tỉnh miền núi và có nhiều ở các vườn nhà vùng đồng bằng nông thôn. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, bỏ rễ. Thu hái quanh năm và thường dùng tươi.
Theo Đông y, rau diếp cá vị cay tanh hôi (có mùi tanh như cá), tính ấm mát, hơi có độc, đi vào kinh phế. Có tác dụng chữa trĩ, đinh nhọt, chữa chốc đầu, ghẻ lở, đau răng, sởi, đau mắt đỏ, bí tiểu tiện, phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thể phối hợp với một số vị thuốc nam khác chữa sốt xuất huyết. Thường dùng dưới dạng sắc hoặc ép nước cốt hoặc chế dầu dấp cá để nhỏ mắt. Liều dùng thông thường loại cây khô từ 6-12 g, hoặc cây tươi (dùng lá) từ 20-40 g.
Một số bài thuốc có rau diếp cá
- Chữa sốt xuất huyết:  
Rau diếp cá, lá bồ ngót, lá cỏ mực, mỗi thứ 100 g, sắc đặc, uống làm nhiều lần trong ngày.
- Chữa bệnh trĩ:
Rau diếp cá dùng ăn sống hằng ngày, kết hợp lấy diếp cá giã nát và rịt vào nơi bị trĩ, băng lại mỗi ngày 1-2 lần rất tốt.
Nếu trĩ đau nhức thì lấy lá diếp cá nấu nước sôi đổ ra chậu để xông hậu môn, đến lúc nước còn ấm thì ngâm và rửa sạch vùng hậu môn.
- Chữa mụn nhọt sưng đỏ:
Lấy vài lá diếp cá rửa sạch, giã nát, khi đi ngủ rịt vào mụn nhọt băng lại, sáng dậy bỏ ra, làm vài lần sẽ mau khỏi.
- Chữa vú sưng tắc sữa:
Dùng 20 g cây diếp cá khô, táo đỏ 10 quả. Đổ vào 600 ml nước, sắc còn lại 200 ml, chia đều 3 lần uống trong ngày.
- Chữa đau mắt đỏ:
Rau diếp cá 10 lá, rửa sạch giã nhuyễn, dùng vải mỏng hoặc giấy xốp gói đắp lên mắt sẽ khỏi.
- Chữa viêm tuyến vú:
Lá diếp cá 30 g, lá cải trời 30 g (cải trời tức hạ khô thảo nam), giã nát, thêm chút nước sôi để nguội vắt lấy nước cốt uống, còn bã chưng nóng với giấm rịt vào nơi sưng đau vài lần là khỏi.
- Chữa tiểu buốt, dắt:
Rau diếp cá, rau má, lá  mã đề mỗi thứ 50 g rửa sạch, vò nát, lọc lấy nước trong uống nhiều ngày sẽ khỏi. 
- Chữa viêm đường hô hấp do sởi:
Rau diếp cá, rau dền đỏ, lá đậu săng, cam thảo đất, mỗi thứ 15-20 g. Đổ 3 bát sắc còn 1 bát, chia 3 lần uống trong ngày.
Rau diếp cá là vị thuốc chữa được rất nhiều bệnh có hiệu quả cũng là loại rau ăn gần gũi với mọi gia đình.