Wednesday, April 11, 2012

KHOAI LANG


1. Chữa cảm sốt mùa hè

- Thời tiết mùa hè dễ gây sốt vì cảm thử, không ra được mồ hôi. Với người sức khỏe tốt, có thể nấu khoai lang trắng với cải bẹ xanh ăn thay cơm để giúp ra mồ hôi, hạ sốt, giải thử.

- Khoai lang trắng khô một nắm, nghệ một củ, giấm 1/2 chén con, sắc uống nóng.

- Khoai lang trắng khô 16g, gừng 16g, sắc uống hoặc nấu cháo.

- Khoai lang trắng tươi luộc chín để xông, rồi ăn khoai nóng, uống nước luộc khoai nóng cho ra mồ hôi.

- Thanh nhiệt giải độc: khoai lang 1 củ (400g), gạo 200g, đậu xanh 1/2 bát cơm, mã thầy 4 củ, củ cải 1 củ, tỏi 3 nhánh, thịt gà 150g, tôm nõn 70g, gia vị. Tất cả giã nát hoặc thái nhỏ nấu nhừ, riêng đậu xanh và mã thầy cho vào sau rồi nấu nhừ tiếp.

2. Chữa táo bón


- Ăn khoai luộc đơn thuần hoặc chấm mật, chấm vừng, ăn với cà pháo cả quả hoặc thái chỉ nghiền cùng khoai thành khối. Có thể uống nước luộc khoai (khoai phải rửa sạch).

- Nấu chè khoai tươi hoặc khô với vừng và ít hoa quế.

- Dùng nước cốt luộc khoai tươi hay khô đã giã nát, nếu bị trĩ thì uống hàng tháng nước cất này vào buổi sáng.

- Ăn bánh làm bằng khoai lang với vừng hoặc dừa. Khoai lang tươi xào dầu vừng. Canh rau lang. Rau lang luộc chấm nước mắm gừng tỏi hoặc nước sốt cà chua, chấm vừng lạc (giã nhỏ).

- Nên làm sẵn bột khoai khô với vừng tán mịn, quấy uống mỗi sáng với nước đường.

3. Phòng chống béo phì

- Ăn khoai và rau lang luộc.

- Ăn chế độ 1/2 gạo, 1/2 khoai riêng rẽ, hoặc độn với nhau nấu cơm, cháo, bánh...

4. Trị chứng biếng ăn ở trẻ: cho ăn dặm bằng bột khoai lang vàng đỏ quấy với bột, sữa.

5. Chữa cam tích trẻ em: lá khoai lang non 100g, màng mề gà 2g. Sắc uống hoặc quấy với bột sữa.

6. Quáng gà: lá khoai lang non xào gan gà hoặc gan lợn.

7. Thiếu sữa: lá khoai lang tươi non 250g, thịt lợn 200g thái chỉ. Xào chín mềm, thêm gia vị.

8. Viêm tuyến vú: Khoai lang trắng gọt vỏ, giã nhuyễn đắp lên vú, có thể phối hợp với tỏi giã nhuyễn để đắp.

9. Thận âm hư, đau lưng mỏi gối: Lá khoai lang tươi non 30g, mai rùa 30g, sắc kỹ lấy nước uống.

10. Thận dương hư đi tiểu nhiều lần: Hầm thịt chó với khoai lang, cho thêm chút rượu và gia vị.

11. Chữa viêm dạ dày thiểu đoan: Lấy nước cốt khoai lang sắc uống ngày 3 lần. Mỗi lần một chén, uống liền 3 tuần, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp.




Phải bỏ hết khoai hà (sùng), khoai đã có mầm và vỏ xanh chứa chất độc

12. Chữa ngộ độc sắn: Khoai lang gọt vỏ giã nát thêm nước, vắt lấy nước cốt. Uống cách nhau 1/2 giờ.
13. Say tàu xe: Củ khoai lang tươi nhai nuốt cả nước và bã.

14. Phụ nữ băng huyết: Rau lang tươi một nắm giã nát, lấy nước cốt uống.

15. Chữa vàng da: Nấu cháo đặc bằng khoai với gạo hoặc bột ngô.

16. Chữa tiểu đường: Lá khoai lang tươi 250g, bí đao 50g. Nấu canh ăn.

17. Chữa bệnh ngoài da

a. Đắp mụt nhọt: Khoai lang củ 40g, lá bồ công anh 40g, đường hoặc mật mía giã nhuyễn bọc vào vải, đắp lên mụn nhọt.

b. Hút mủ nhọt đã vỡ: Lá khoai lang non 50g, đậu xanh 12g, thêm chút muối, giã nhuyễn bọc vào vải đắp.

c. Ngứa lở âm nang: Sắc lá rau lang với ít muối, ngâm rửa hàng ngày vào buổi tối.

d. Bỏng: Lá khoai tươi rửa sạch, giã nhuyễn đắp lên vết bỏng.

18. Chế độ ăn có khoai lang trong điều trị ung thư:

a. Ung thư kết tràng, trực tràng: Cháo khoai lang - khoai lang tươi cả vỏ nấu cháo với gạo tẻ, đường.

b. Ung thư tử cung (bạch đới nhiều): viên hẹ, bột khoai lang 150g, khoai tây 200g, hạt hẹ 3g, thịt lợn nạc 50g, ít tôm nõn, táo đỏ, gia vị tùy ý. Hai loại khoai tạo vỏ, các thứ khác tạo nhân vo viên hấp chín (hạt hẹ rang thơm tán bột).

BÍ ĐAO


Đông y gọi là đông qua, có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh phế, vị, bàng quang, tiểu tràng, không có độc tính. Có tác dụng kiện tỳ, ích khí, tiêu thủy. Trường kỳ ăn bí đao có thể tiêu trừ nước thừa trong cơ thể, giảm cân, chống béo phì. Bí đao thích hợp cho người bị khí hư tỳ yếu, béo bệu, phù thũng cục bộ hoặc toàn thân. Bí đao được ghi trong các phương thuốc bí truyền làm đẹp của các mỹ nhân, cung phi, ngoài ra bí đao có tác dụng giải khát, thanh tâm hư nhiệt phiền, tiêu úng thủy trướng và lợi thủy.

Các bài thuốc thường dùng:

Bài 1: Trị bệnh phù, đi tiểu ít do viêm thận cấp tính: Dùng 500g bí đao cả vỏ và hạt, 100g đậu đỏ, cho nước đun thành canh, uống nước canh ăn đậu, mỗi ngày 2 lần sẽ lợi tiểu tiêu phù.

Bài 2: Trị bệnh thủy thũng do viêm thận mạn tính: Mỗi ngày dùng 30-50g râu ngô, 500g bí đao cả vỏ (rửa sạch thái miếng) cho vào 1.500ml nước đun nhỏ lửa 30 phút, chắt lấy nước chia làm 2 lần uống nóng, uống liên tục trong 10 ngày, ngừng 3 ngày sau đó uống tiếp, nếu có hiệu quả thì uống thời gian dài càng tốt.

Bài 3: Trị thủy thũng khi mang thai: 500g bí đao, 200g cá chép làm sạch, đun lên ăn.

Bài 4: Trị bụng trướng; 500g bí đao cả vỏ và hạt, không bỏ muối, đổ nước đun chín ăn.

Bài 5: Trị bệnh phù không rõ nguyên nhân, đi đái rắt: Dùng 500g bí đao cả vỏ, hạt, 125g phục linh cả vỏ, 125g ý dĩ, đổ nước đun nhỏ lửa, khi chín ăn bí, phục linh ý dĩ, uống canh, chia làm 2 lần.

Bài 6: Đái tháo đường; Bí đao 1.200g, cắt đầu cho vào trong ruột 30g hoàng liên bột. Đậy nắp găm chặt bằng tăm, nấu chín nhừ, để nguội ép lấy nước, uống ngày 3 lần.

Bài 7: Ho gà, viêm phế quản cấp và mạn: Hạt bí đao 15g trộn với đường phèn giã mịn nhào với mật o­ng uống với nước đun sôi để nguội, ngày 2-3 lần.

Bài 8: Chống béo phì: Theo các nhà dinh dưỡng học, bí đao không chứa chất béo, có chứa hợp chất hóa học hytơrin- capơric, chất này khống chế đường chuyển hóa thành mỡ, có thể ngăn chặn sự tích lũy mỡ trong cơ thể chống béo phì, có thể dùng bí đao làm canh ăn hàng ngày.

Lấy 500g bí đao cả vỏ, hạt rửa sạch thái miếng bỏ vào nồi, cho thêm trần bì, gừng tươi, muối, nước vừa đủ, đun chín bí thì ăn bí uống canh, mỗi ngày 1 lần. Hạt bí đao lợi thấp, vỏ bí đao thì lợi thủy, bí đao ăn cả vỏ hạt thì công hiệu càng cao. Trần bì có tác dụng lý khí, kiện tỳ, lợi thấp, gừng hành thông dương hóa ẩm lợi thủy ăn kết hợp với bí đao sẽ hỗ trợ giảm béo.

Bài 9: Bí đao làm đẹp da (giữ da mặt đẹp): Quả bí đao, rượu 1.500g, nước 100g, mật o­ng 500g. Dùng dao tre nứa gọt vỏ bí, cắt thành miếng nhỏ, rượu, nước cho vào nồi đồng hầm nhuyễn nát, lọc lấy nước cô thành cao rồi cho mật vào đun lại. Để nguội cho vào lọ nút kín dùng dần, buổi tối lấy xoa mặt

TRÁI BƯỞI


Bưởi: Vị thuốc quý
Bưởi là loại trái cây ngon miệng, giàu dinh dưỡng, vitamin...được nhiều người ưa thích, nên thường được chọn làm món tráng miệng hay ép thành nước giải khát. Bên cạnh đó, bưởi từ lâu đã được biết đến như một vị thuốc quý .Hầu hết tất cả thành phần của quả bưởi đều có tác dụng chữa bệnh.

Lá bưởi




Lá bưởi có vị cay, tính ấm, được dùng chữa viêm khớp dạng thấp, thể hàn thấp, đau bụng do thực trệ, cảm mạo. Lá bưởi dùng để trị các chứng đau đầu do phong, viêm khớp. Dân gian thường dùng lá bưởi tươi nấu với nhiều lá thơm khác để xông, tắm chữa cảm cúm, nhức đầu rất có hiệu quả.Lá bưởi và hành củ giã nát đắp vào huyệt thái dương có thể trị chứng đau đầu do phong hiệu quả.

Lá bưởi và gừng giã nát, trộn với dầu trầu, đắp tại chỗ có thể điều trị viêm khớp cấp.

Lá bưởi, thành bì 30 g, bồ công anh 30 g, sắc uống hằng ngày, chữa áp xe vú.

Cùi bưởi

Vị ngọt đắng, tính ấm, tác động vào tỳ, thận và bàng quang, công dụng hóa đàm, tiêu thực, hạ khí và làm khoan khoái lồng ngực. Cùi bưởi được dùng để chữa các bệnh sau:

Chứng ho hen ở người già: cùi bưởi thái vụn, hấp cách thủy với kẹo mạch nha hoặc mật ong, ngày ăn 2 lần vào buổi sáng, mỗi lần một thìa. Hoặc cùi bưởi thái chỉ, hãm với nước sôi uống thay trà.

Đau bụng do lạnh: cùi bưởi, trà, thang đằng hương. Các vị sấy khô tán bột, uống 6 g mỗi lần.

Sán khí: cùi bưởi khô sao vàng 10 g sắc uống hằng ngày.

Viêm loét ngoài da: cùi bưởi tươi sắc lấy ngâm rửa

Vỏ bưởi

Vỏ quả bưởi chữa ăn uống không tiêu, đau bụng, ho, ngày dùng 4 -12 g dưới dạng thuốc sắc.

Vỏ hạt bưởi được dùng để cầm máu trong các trường hợp chảy máu, ngày dùng 4-10 g dưới dạng thuốc sắc.

Hoa bưởi

Có tác dụng hành khí, tiêu đờm, giảm đau, dùng để chữa các chứng đau dạ dày, đau tức ngực với liều từ 2-4 g, sắc uống.

Hoa bưởi ngâm rượu trắng sau một thời gian thành tinh dầu bưởi rất thơm.

Múi bưởi

Dùng để trị đau đầu, mỗi ngày ăn 100-150 g. Người bị đau đầu nặng, buồn nôn, hoa mắt, chóng mặt, rêu lưỡi. Thái vụn 500 gmúi bưởi rồi ướp với đường trắng trong liễn sành một đêm, sau đó cho vào nồi chưng kỹ, cho 350 gmật ong vào quấy đều, để nguội rồi đựng trong bình gốm kín để dùng dần. Mỗi lần uống 3 g, ngày dùng 3 lần.

Nước ép múi bưởi được dùng làm thuốc chữa tiêu khát (đái tháo nhạt), thiếu vitamin C

Hạt bưởi

Hạt bưởi bóc vỏ cứng ở ngoài, xâu vào dây thép, đốt cháy thành than, nghiền nhỏ. Rửa sạch chỗ da dầu bị chốc, bôi bột thuốc này lên ngày 1-2 lần, điều trị 3-6 ngày là khỏi.

Tầm gửi cây bưởi được dùng chữa các bệnh khớp, ăn uống khó tiêu

TRÁI KIWI


Kiwi thơm ngon và chứa nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe.

1. Phòng ngừa các bệnh hô hấp




Quả kiwi phòng chống bệnh ung thư.


Các nghiên cứu khoa học ở nước Ý trên 18.000 trẻ em từ 6 - 7 tuổi đã minh chứng về các lợi ích của kiwi đối với đường hô hấp. Những trẻ em thường ăn từ 5 -- 7 phần ăn có chứa các loại trái cây thuộc họ cam quít kết hợp với kiwi mỗi tuần sẽ có tỉ lệ mắc bệnh hen suyễn thấp hơn 44 % so với những trẻ em chỉ ăn thực phẩm cùng loại chỉ 1 lần trong tuần.

Ngoài ra kết quả nghiên cứu còn cho thấy các chứng ho liên hồi sẽ giảm tới 27 %, chứng khó thở giảm 32%, hiện tượng chảy nước mũi giảm 28 %, chứng thở khò khè kéo dài giảm 41 % và chứng ho kinh niên giảm tới 25 % vì trong kiwi có chứa lượng Vitamin C rất cao.

2. Phòng ngừa các bệnh tim mạch

Ăn kiwi vào mỗi buổi sáng có hiệu quả tương tự như thuốc aspirin đối với tim mạch (giảm hiện tượng tắc nghẽn mạch máu) mà không có tác dụng phụ như gây viêm nhiễm và chảy máu đường ruột.

Theo một nghiên cứu khoa học của trường đại học Oslo (Na Uy), những người ăn từ 2 -- 3 quả kiwi mỗi ngày trong vòng 28 ngày sẽ giảm tình trạng tập hợp các tiểu huyết cầu (nguy cơ dẫn đến hiện tượng tắc nghẽn mạch máu) tới 18 % và giảm lượng chất béo trung tính ở trong máu tới 15 %.

Điều này ngăn chặn sự hình thành các mảng bám trên thành động mạch, vì thế phòng ngừa được các bệnh về tim mạch.

3. Chống lại bệnh ung thư

Quả kiwi chứa nhiều chất flavonoid và carotenoid (hợp chất chống ôxy hóa). Đây là những hợp chất đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các DNA không bị hủy hoại do quá trình ôxy hóa, vì thếsự phát triển của bệnh ung thư sẽ bị ngăn chặn và kìm chế.

4. Có lợi cho tiêu hóa

Kiwi là nguồn thực phẩm dồi dào các chất xơ, giúp cơ thể dễ tiêu hóa, loại trừ các độc tố ra khỏi ruột già, giúp ngăn ngừa bệnh ung thư ruột già. Ngoài ra, chất xơ còn ngăn ngừa bệnh táo bón và các bệnh về đường tiêu hóa khác.

5. Bảo vệ mắt

Kiwi là nguồn cung cấp dồi dào các chất lutein và zeaxanthin (thành phần hóa học tự nhiên có trong mắt). Lutein giúp thanh lọc ánh sáng xanh nguy hiểm, giúp ngăn ngừa tình trạng thoái hóa võng mạc khi lớn tuổi và sự phát triển của bệnh tăng nhãn áp cũng như bệnh đục nhân mắt. Zeaxanthin hoạt động song hành với lutein, giúp mắt luôn khỏe mạnh.

Một nghiên cứu khoa học được xuất bản vào tháng 6 năm 2004 trong tạp chí "Archives of Opthamology" (của Hội Liên hiệp Y khoa Mỹ) chỉ ra rằng, việc ăn 3 hoặc nhiều hơn các phần ăn có trái cây (bao gồm quả kiwi) mỗi ngày có thể làm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh thoái hóa võng mạc khi lớn tuổi, đó là lý do chính làm giảm thị lực ở những người lớn tuổi.

6. Kiểm soát huyết áp

Kiwi là nguồn cung cấp dồi dào chất điện phân potassium. Potassium đóng vai trò quan trọng trong các tế bào để giữ các chất lỏng và chất điện phân trong cơ thể luôn cân bằng, giúp kiểm soát nhịp tim và huyết áp bằng cách chống lại tác dụng của natri.

7. Tốt cho da

Kiwi chứa nhiều vitamin E, một chất chống ôxy hóa có thể ngăn ngừa các yếu tố tiềm ẩn gây thoái hóa da. Vitamin E còn có công dụng tuyệt vời đối với làn da của bạn.

8. Nâng cao sự miễn dịch

Vì kiwi chứa rất nhiều vitamin C và các hợp chất chống ôxy hóa nên nó có khả năng nâng cao sự miễn dịch cho cơ thể.

9. Chống lại bệnh liệt dương

Kiwi chứa nhiều axít amin arginine- một chất có tác dụng điều trị các rối loạn chức năng tình dục ở nam giới.

10. Tốt cho phụ nữ mang thai và thai nhi

Kiwi chứa rất nhiều chất folate thiết yếu cho phụ nữ trong suốt thời kỳ mang thai. Folate có khả năng giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh ở thai nhi và làm tăng các tế bào máu cung cấp cho thai nhi ở dạ con.

Bổ sung kiwi vào chế độ ăn hàng ngày, sẽ rất tốt cho sức khỏe của bạn

TRÁI BƠ

Nhìn bề ngoài trái bơ không có vẻ gì bắt mắt nhưng lại chứa "đầy ắp" những lợi ích về sức khỏe vì nó có đến hơn 25 loại vitamin và khoáng chất cần thiết. Dưới đây là 10 lý do tại sao bạn không nên bỏ qua loại trái cây bổ dưỡng này.


1. Các nghiên cứu cho thấy oleic acid là một loại chất béo đơn, không bão hòa được tìm thấy trong trái bơ (hay còn gọi là acid Omega-9), có tác dụng giảm cholesterol và giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường.
video trái bơ
2. Lượng kali trong trái bơ còn dồi dào hơn cả chuối (chiếm khoảng 60%). Kali giúp chống lại các bệnh về tuần hoàn máu bao gồm: tăng huyết áp, bệnh tim, đột quỵ.

3. Loại trái cây này còn chứa lượng lớn vitamin E, một chất chống ôxy hóa được biết đến như một "liều thuốc" có thể làm trẻ hóa tuổi tác, ngoài ra nó còn giúp bảo vệ cơ thể, chống lại các bệnh về tim mạch, ung thư.

4. Đặc biệt trong bơ cũng rất giàu acid folic, nguồn dinh dưỡng quan trọng cho một trái tim khỏe mạnh. Acid folic là một khoáng chất vô cùng cần thiết, nhất là đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai, có vai trò thúc đẩy các tế bào và mô phát triển khỏe mạnh, ngăn ngừa những khuyết tật cho thai nhi như tật nứt cột sống, khuyết ống thần kinh...

5. Bơ còn chứa nguồn lutein cao, có tác dụng bảo vệ đôi mắt, ngăn ngừa các bệnh về mắt như: đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng.

6. Nghiên cứu gần đây cũng cho thấy khi dùng thêm bơ trong chế biến các món nước sốt, hay trộn salad sẽ giúp cơ thể thúc đẩy quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng khác như alpha-carotene, beta-carotene, carotenoids.

7. Trong loại quả "màu mỡ" này còn chứa nhiều vitamin K, một loại vitamin đóng vai trò rất quan trọng vào quá trình làm đông máu cũng như giúp hoạt hóa một số protein trong xương để xương có thể phát triển khỏe mạnh.

8. Trái bơ giàu chất xơ nên nó cũng mang lại lợi ích tốt trong việc điều trị và ngăn ngừa chứng táo bón, bệnh trĩ.

9. Một lý do khác không thể bỏ qua loại trái cây vùng nhiệt đới này chính là vitamin B6 chứa trong bơ, đây là loại vitamin rất cần thiết, tham gia vào việc thực hiện các phản ứng hóa học diễn ra trong cơ thể, bên cạnh đó còn tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng.

10. Do có nhiều lợi ích về dinh dưỡng bao gồm cả vitamin C, kẽm, đồng... trái bơ được Hiệp hội Bệnh Tiểu đường tại Mỹ liệt kê vào danh sách như những "siêu sao" đứng đầu về dinh dưỡng.

Tuesday, April 10, 2012

Vị thuốc bổ từ con cà cuống

Cà cuống còn được gọi là đà cuống, sâu quế hay long sắt, với tên khoa học là Belostoma indica Vitalis hay Lethocerus indicus Lep. et Serv.


Con cà cuống
Cơ thể cà cuống hình lá, dẹt giống con gián (nhất là khi non), dài 6 – 7cm, rộng 2,5cm, màu nâu xám pha vàng nhạt, có nhiều vạch đen bóng. Ở dưới ngực cà cuống đực, có hai túi nhỏ và dài (gọi là bọng cà cuống) chứa một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh, đó là tinh dầu có tên hoá học là veleriant amil. Chất tinh dầu này không độc, có vị cay, mùi thơm ngát, thường được dùng làm gia vị trong bữa ăn của người Việt Nam ta, nhất là ở nông thôn, trong những mùa gặt hái. Song cũng là một vũ khí lợi hại để tấn công con mồi, xua đuổi địch thủ và dụ con cái đến giao phối. Bụng có những khía ngang và ít lông mịn màu vàng nhạt.
Bộ phận dùng làm thuốc của cà cuống là thịt, trứng và tinh dầu. Cà cuống sau khi vặt bỏ cánh có thể dùng tươi sống.
Người ta bắt cà cuống vào tháng 4 đến tháng 9. Đem về vặt bỏ cánh, thường dùng tươi sống. Thịt và trứng cà cuống chứa protein với hàm lượng khá cao, lipid và các vitamin.
Đông y cho rằng dược liệu có vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, lợi tiêu hóa.
Trong dân gian, người ta dùng thịt và trứng cà cuống để ăn dưới dạng luộc hoặc rán sau khi đã lấy túi tinh dầu. Có thể để nguyên con, chỉ vặt bỏ cánh, hấp chín, rồi băm nhỏ dùng làm gia vị đặc biệt cho món nước chấm bánh cuốn và nước dùng bún thang.
Còn tinh dầu là một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh có trong hai túi nhỏ và dài ở dưới ngực cà cuống đực. Chất thơm được xác định là hexanol acetate. Có thể lấy bằng cách sau: dùng đầu nhọn của que tre hay mũi dao rạch một đường ngang ở vị trí giữa đôi chân thứ ba. Gấp bụng cà cuống xuống để bộc lộ hai túi tinh dầu, sau đó dùng kẹp khẽ gắp túi và rút ra một cách nhẹ nhàng (tránh làm rách túi), rồi chích túi cho tinh dầu chảy vào lọ khô, sạch, đậy kín cất dùng dần. Nếu đựng trong lọ có nút mài thì có thể bảo quản được rất lâu. Tinh dầu cà cuống được sử dụng như thịt và trứng.
Trên thực nghiệm y học, tinh dầu cà cuống được dùng với liều thấp theo giọt như một chất kích thích thần kinh, gây hưng phấn và tăng cường nhẹ khả năng sinh dục. Người ta cũng đã tổng hợp được tinh dầu cà cuống nhân tạo với mùi vị như tinh dầu thiên nhiên, nhưng chất lượng kém hơn.
BS. Hoàng Xuân Đại

Saturday, March 17, 2012

Công dụng của cây rau răm

Rau răm là cây dễ tìm và có nhiều công dụng như có tác dụng tốt cho tiêu hóa, chữa bệnh ngoài da…Chúng ta cùng tìm hiểu kỹ công dụng của cây rau răm…

Rau răm - Polygonum odoratum Lour, thuộc họ Rau răm Polygonaceae.
Mô tả: Cây thảo mọc hằng năm, có tuyến nhiều hay ít. Thân mọc trườn ở gốc và đâm rễ ở các mấu, rồi đứng lên cao 30-35cm. Lá mọc so le, hình bầu dục ngọn giáo, nhọn hay to ở chóp, cuống rất ngắn, mép lá và gân chính phủ đầy những lông nhọn khá dài; bẹ chìa ngắn ôm lấy thân, có nhiều gân song song mà phần lớn kéo dài ra thành những sợi dài. Hoa họp thành bông dài, hẹp, mảnh, đơn độc hay xếp từng đôi hoặc thành chùm ít phân nhánh. Quả nhỏ, có 3 cạnh, nhọn hai đầu, nhẵn và bóng.
Bộ phận dùng: Cành và lá - Ramulus et Folium Polygoni Odorati.
Nơi sống và thu hái: Loài đặc hữu của Ðông Ðông Dương mọc hoang hoặc được trồng nhiều làm rau gia vị. Thu hái cành lá quanh năm, thường dùng tươi.
Thành phần hoá học: Lá có tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm mát dễ chịu.
Tính vị tác dụng: Rau răm có vị cay nồng mùi thơm, tính ấm; có tác dụng tán hàn, tiêu thực, sát trùng.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng ăn để kích thích tiêu hoá, chữa dạ dày lạnh, đầy hơi đau bụng, kém ăn, co gân (chuột rút), ỉa chảy. Còn dùng chữa sốt, làm thuốc lợi tiểu và chống nôn. Dùng ngoài để chữa bệnh ngoài da (hắc lào, sâu quảng) rắn cắn và chó dữ cắn. Ngày dùng 20-30g giã tươi lấy nước uống hay sắc uống.
Ðơn thuốc:
1. Chữa bỗng dưng đau tim không chịu nổi; Dùng rễ rau răm 50g sắc rồi chế thêm một chén rượu vào uống, mỗi lần 1 chén.
2. Chữa mùa hè say nắng, chết khát: Giã rau răm tươi, vắt cốt đun sôi uống.
Theo bác sĩ Lê Minh, người bị say nắng thể trạng bán hôn mê, dùng Rau răm 30g, Sâm bố chính 20g (tẩm nước gừng), rễ Ðinh lăng (lá nhỏ) 16g, Mạch môn 10g; 4 vị sao vàng, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.
3. Chữa kém ăn: Rau răm ăn theo gia vị hoặc dùng cả cây 10-20g sắc uống sau bữa ăn.
4. Chữa ghẻ lở, chốc, sâu quảng: Rau răm toàn cây ngâm rượu. Lấy rượu đó bôi, hoặc giã nát xát hoặc đắp rồi băng lại.
5. Chữa tê bại, vết thương bầm tím sưng đau: rau răm tươi giã nát trộn với long não hoặc dầu Long não hay cồn Long não, xoa hoặc băng vào các nơi tê đau.
6. Chữa rắn cắn: Rau răm dùng tươi cả cây nhai nuốt (hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống) còn lá đắp vào vết thương. Hoặc lấy 20 ngọn rau răm tươi đắp vắt nước uống, bã đắp.
Rau răm tuy không độc, nhưng nhân dân có kinh nghiệm từ xưa lưu truyền lại: dùng nhiều rau răm quá thì hại về mặt sinh lý, kém cường dương tráng khí, chân huyết cũng khó đi, hay phá huyết, nên khi có thai cũng không nên ăn nhiều Rau răm để đảm bảo sức khỏe.